Một vũ khí mới chống bệnh sốt rét

Để chống lại hiện tượng kháng thuốc ngày càng tăng trong điều kiện trị bệnh sốt rét do plasmodium falciparum, các nhà hóa học Trung Quốc đã phân lập được một phần tử mới là artemisin (lấy từ artemine). Tuy nhiên chất này rất khó sản xuất lại dễ bị cơ thể phân hủy. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Johns Hopkins ở Baltimore đã thành công trong việc tổng hợp một phân tử cùng loại artemisin có cùng một hiệu năng lại dễ sản xuất gấp 2 lần. Những thử nghiệm đầu tiên về độc tính của thuốc mang lại kết quả mỹ mãn.
Philippines không thành công trong việc kiểm soát lao
Theo tin từ BMJ, gần hai phần ba số người Philippines mắc lao, và theo như báo cáo quốc gia về cuộc điều tra tần số mới mắc lao trong toàn quốc gần đây thì có tới 5 triệu người mắc mới hàng năm.
Bệnh lao đã giết chết 68 người hàng ngày ở một đất nước mà sự nhận thức về bệnh lao quá xiên lệch đến nỗi một số thầy thuốc thực hành xem các loại thuốc chống lao như là “các loại thuốc bổ cho phổi”.
Theo Tổ chức Y tế thế giới thì Philippines đứng hàng thứ 4 trên thế giới về số lượng bệnh nhân lao và có tỷ lệ cao nhất bệnh nhân lao tính theo đầu người ở khu vực Đông Nam Á. Cựu Bộ trưởng Y tế, Thượng nghị sĩ Juan Flavier đã mô tả tình trạng này như là một “Quả bơm định giờ” đang chờ mổ.
Tiến sĩ Rodrigo Romulo, Chủ tịch Hiệp hội phòng khám lao đã nói: “Một trong những điều chính mà cuộc điều tra nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy là tình hình kiểm soát lao mới trở nên xấu đi gần đây so với kết quả trong cuộc điều tra trước đã được tiến hành vào đầu những năm 1980. Tất cả mọi cố gắng trong việc kiểm soát lao đã tiến hành từ đó tới nay không có bất kỳ tác động ảnh hưởng nào”.
Tiến sĩ Leopold Blanc, Cố vấn khu vực về bệnh lây truyền mạn tính tại Văn phòng khu vực của WHO tại Manila nói: ở Philippines, cũng như hầu hết các nước khác ở châu Á, đến nay gần như tất cả các trẻ em đã được tiêm phòng bằng vaccine BCG, mặc dù nó không đem lại sự bảo vệ toàn diện chống bệnh lao.
Cho tới nay, rất ít bệnh nhân lao trong khu vực kháng với tất cả các loại thuốc lao hiện có, mặc dù ở một số vùng có tới 60% bệnh nhân kháng với thuốc thông thường nhất – insoniazid.
Theo Tiến sĩ Blanc trong những năm 1980, những khoản ngân sách lớn giành cho công tác kiểm soát bệnh lao nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã được dùng để phát hiện bệnh nhiều hơn là để đảm bảo bệnh nhân được điều trị đầy đủ. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ Philippines vừa mới đưa ra một chiến lược mới trong đó có nhấn mạnh đến chương trình DOTS (điều trị hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát), nhờ đó bệnh nhân được giám sát chặt chẽ để đảm bảo đã được điều trị đủ thuốc.
Cuộc điều tra cho thấy, dẫu sao, còn hơn 50% bệnh nhân với những triệu chứng lao không muốn tìm đến sự giúp đỡ của các cơ sở y tế, một phần lý do dẫn đến tình trạng này, theo Tiến sĩ Romulo là do cảm giác ô danh của bệnh nhân đối với bệnh nhân này. Bệnh lao thường được nhìn nhận như là một loại bệnh đang hổ thẹn và không sạch sẽ. Thậm chí nếu bệnh nhân có tình đến sự giúp của y tế thì nhiều người cũng không tin rằng thuốc lao sẽ được thành lập để tìm biện pháp khắc phục sự lúng túng này và hiện nay đã xây dựng được một chiến lược thống nhất.
Lê Chí Thành –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Phơi nắng lợi hay hại?

Các chuyên gia ngành da liễu cho biết: mặt trời tác động đến cơ thể con người chủ yếu qua da. Nếu da nhận không đủ ánh sáng thì xương sẽ giòn do thiếu vitamin D (vì thế trẻ em ở Bắc cực thiếu ánh sáng mặt trời thường mắc bệnh còi xương), ngược lại nhiều người phơi nắng quá giới hạn cần thiết, hấp thụ nhiều tia phóng xạ dẫn đến da khô, gây bệnh ngứa, có thể mắc bệnh chàm hoặc nguy hại hơn là bệnh ung thư da. Riêng ở Đức trong năm qua đã có 13 nghìn người mắc bệnh ung thư da do nguyên nhân này.
Các chuyên gia ngành da liễu đưa ra lời khuyên bổ ích sau:
Không nên phơi nắng giữa trưa, vì ánh nắng buổi trưa làm cho da chóng bị lão hóa hơn, xác xuất mắc bệnh ung thư tăng lên.
Phải có mũ nón khi đi ngoài nắng. Không làm việc ngoài trời nắng quá lâu, da bị cháy nắng, rất nguy hiểm, rất dễ bị ung thư da.
Sau khi tắm, da rất nhạy cảm, cần dùng kem bảo vệ da.
Như vậy việc tắm nắng là có lợi cho sức khỏe của người dân ở các nước khí hậu ôn đới, hàn đới, nhưng cũng chỉ trong liều lượng thích ứng. Còn ở ta với lượng nắng có phần thừa thãi thì nên phải rất chú ý bảo vệ da khi làm việc và nghỉ ngơi ngoài nắng.
Những bệnh chống chỉ định trong tập luyện thể thao
Hiện nay, phong trào tập luyện Thể dục thể thao của đông đảo quần chúng ngày càng phát triển rộng rãi. Tập luyện Thể dục thể thao có một vai trò hết sức quan trọng không những chỉ trong đấu tranh với bệnh tật, phòng bệnh, củng cố sức khỏe và phát triển thể lực mà còn có vai trò làm chậm lại quá trình lão hóa và kéo dài sự sống cho mọi người trong mọi giai đoạn lứa tuổi.
Tuy tập Thể dục thể thao có lợi như vậy, song không phải bất cứ ai, trong bất cứ lúc nào cũng có thể tập luyện Thể dục thể thao được. Có những người mang bệnh phải chống chỉ định tuyệt đối, lại có những chỉ định đó chỉ tập luyện Thể dục thể thao sẽ tác động ngược trở lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng về tình trạng sức khỏe cho người tập.
Xin giới thiệu một số trường hợp chống chỉ định đối với những người tập luyện Thể dục thể thao: Tất cả những bệnh đang ở trong giai đoạn cấp và bán cấp tính; các bệnh tâm thần; các bệnh nội tạng của hệ thần kinh trung ương ở thể nặng; ung thư ác tính; các bệnh thuộc về hệ tim mạch:
Phình tim và những mạch máu lớn.
Thiếu máu cục bộ tim và thường xuyên lên cơn đau thắt ngực nặng, mới bị nhồi máu cơ tim.
Suy tuần hoàn ở độ II và III của bất kỳ căn bệnh nào.
Một số trường hợp rối loạn nhịp tim (loạn nhịp hoàn toàn, Bloc nhĩ thất toàn bộ).
Các bệnh thuộc về các cơ quan hô hấp:
Bệnh hen phế quản nặng và thường xuyên lên cơn.
Bệnh giãn phế quản ở thể nặng.
Tuân thủ tốt những chỉ định trong tập luyện Thể dục thể thao là tăng cường sức khỏe cho mọi người.
PXN –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Quân đội thi tìm hiểu về dân số kế hoạch hóa gia đình và phòng chống AIDS

Thời gian qua, công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình và phòng chống HIV/AIDS trong quân đội đã được triển khai tích cực: huấn luyện hàng năm cho chiến sĩ về Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, về phòng chống HIV/AIDS; phát triển nhiều tài liệu, băng video, tranh, ảnh, tờ gấp… tổ chức các trung tâm tư vấn tại các quân khu, quân đoàn; tổ chức mít tinh, hội thảo, biểu diễn văn nghệ… về 2 đề tài này. Nhờ vậy, tỷ lệ sinh con trước tuổi 22 của phụ nữ trong quân đội giảm từ 2,82% năm 1993 xuống 0,07% năm 1997; tỉ lệ sinh con thứ ba từ 6,08% năm 1993 giảm xuống 4,5% năm 1997; 100% thanh niên nhập ngũ bị nhiễm HIV đã được phát hiện và xử lý kịp thời; bảo đảm an toàn tuyệt đối trong việc truyền máu.
Để đánh giá thực chất hiệu quả của công tác và nâng cao hơn nữa nhận thức của bộ đội về vấn đề này, Bộ quốc phòng đã tổ chức cuộc thi tìm hiểu nhận thức của bộ đội về “Chương trình Dân số – Kế hoạch hóa gia đình và phòng chống HIV/AIDS trong quân đội năm 1998”, thời gian từ 15/9/1998 đến 30/12/1998. Cả 2 nội dung thi được tiến hành dưới hình thức thi viết và vấn đáp.
Ban hành điều lệ bảo hiểm y tế mới
Ngày 29/9/1998 tại Hà Nội, Bộ y tế đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định số 58/1998/NĐ – CP của Chính phủ ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế (BHYT) mới. Tới dự hội nghị có giáo sư Đỗ Nguyên Phương cùng hơn 200 đại biểu (các đồng chí Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành, giám đốc các sở y tế, giám đốc bảo hiểm y tế, các cán bộ làm công tác bảo hiểm y tế…) của 61 tỉnh thành phố trong cả nước.
Để thực hiện định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 1996 – 2000 của ngành y tế, Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa hoạt động y tế, đồng thời khắc phục những điểm không còn phù hợp của điều lệ hiện hành, nhằm đưa chính sách Bảo hiểm y tế phát triển thêm một bước mới, sau gần 4 năm nghiên cứu, soạn thảo, khảo sát, trưng cầu ý kiến cơ sở và các cấp các ngành có liên quan, ngày 13/8/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ – CP thay thế Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 về Điều lệ Bảo hiểm y tế. Điều lệ Bảo hiểm y tế mới có 8 chương bao gồm 32 điều với những điểm cơ bản; Mở rộng chính sách Bảo hiểm y tế; đa dạng hóa các loại hình y tế để đông đảo các tầng lớp dân cư có điều kiện tham gia Bảo hiểm y tế vì lợi ích cá nhân và của cộng đồng; xác định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện chế độ Bảo hiểm y tế; thực hiện phương thức cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo mức chi phù hợp với khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế; đảm bảo quyền lợi của người có thẻ Bảo hiểm y tế, thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh; thống nhất công tác quản lý hệ thống Bảo hiểm y tế theo ngành dọc để chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước được thực hiện công bằng, đồng bộ và có hiệu quả.
Ứng dụng có hiệu quả nhiều đề tài
Thời gian qua, Viện trang thiết bị và công trình y tế đã nghiên cứu thành công, nghiệm thu nhiều đề tài, trong đó một số đề tài được ứng dụng trong thực tiễn có hiệu quả: Sản xuất chỉ khâu phẫu thuật tư tiêu các cỡ, ứng dụng phương pháp khử trùng bằng tia gama trong quá trình sản xuất chỉ khâu phẫu thuật, nghiên cứu chế tạo máy lọc nước vô trùng, điều chế zaven… Ngoài ra viện cũng đã và đang nghiên cứu hoàn chỉnh một số đề tài: đóng chỉ catgut dạng vỉ, tủ nuôi cấy vô trùng, máy nha học đường, máy sắc thuốc chạy điện 12 – 15 thang/ lần cho đông y.
TH – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Ô dược

Ô dược thuộc họ Long não (Lauraceae), còn có tên khác là cây dầu đắng, sim rừng, ô dược nam (vì dùng thay thế vị ô dược bắc) là một cây nhỏ, cao 1 – 1,4 mét, phân cành nhiều. Cành mảnh, màu đen nhạt. Lá mọc so le, hình bầu dục, phiến khá dày, dài 6cm, rộng 2cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới màu xám nhạt, có lông trắng; 3 gân nổi rõ, cuống lá dài 0,7 – 1cm, lúc đầu có lông, sau nhẵn. Cụm hoa là một xim tán nhỏ mọc ở kẽ lá, đường kính 3 – 4 mm, gồm nhiều hoa nhỏ màu hồng nhạt, bao hoa gồm 6 phiến gần bằng nhau. Quả mọng, hình trứng, khi chín màu đỏ, chứa một hạt. Toàn cây có tinh dầu thơm. Mùa hoa quả: tháng 4 – 6.
Cây mọc hoang ở nhiều nơi, tập trung vào các tỉnh miền đông bắc và miền Trung.
Rễ ô dược, thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu đông; phơi khô. Dược liệu có hình thoi, hơi cong, mặt ngoài màu nâu vàng nhạt có nếp nhăn dọc, mặt trong màu trắng vàng, chất cứng rắn, khó bẻ gãy, mùi thơm. Loại rễ già cứng như củi, không dùng làm thuốc. Vỏ thân ô dược cũng được dùng ở nhiều nơi.
Theo y học cổ truyền, ô dược có vị cay đắng, hơi ngọt, mùi thơm, tinh ấm, có tác dụng phong hàn, làm nóng, giảm đau, chữa cảm, sốt, ngực bụng lạnh đau, đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, nôm mửa, phù thũng. Mỗi ngày dùng 10 – 12 gam dược liệu dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột phụ nữ có thai không được dùng.
Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác theo những phương thuốc sau:
Chữa viêm ruột kết: Ô dược (12 gam), chỉ thực (12 gam), hậu phác (12 gam), hạt cau (12 gam), muồng trâu (16 gam). Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa đau lưng, đau khớp: Ô dược (12 gam), hoàng bá (12 gam), trạch ta (12 gam), thương truật (12 gam), đương quy (12 gam), đậu đen (12 gam), ngưu tất (8 gan), mộc qua (8 gan), hạt cau (6 gam), gừng (6 gam). Tất cả phơi khô, sắc uống trong ngày.
Nhân dân còn dùng vỏ thân ô dược sắc uống làm thuốc bổ dạ dày, điền kinh, giảm đau, lợi trung tiện.
Chữa kinh nguyệt tới sớm
Kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý riêng của phụ nữ. Từ ngày đầu có kinh nguyệt đến ngày đầu có kinh nguyệt lần sau là một chu kỳ, chu kỳ này thường từ 28 – 30 ngày, có khi tới 35 – 40 ngày. Chu kỳ dài hay ngắn khác nhau tùy từng người và có quy luật riêng: thấy kinh trước hoặc sau 7 ngày là bình thường. Thấy kinh trước 7 ngày so với chu kỳ là kinh đến sớm.
Trường hợp lượng kinh ra nhiều, máu đỏ tía đạo, có nhiều máu cục, sắt mặt đỏ, môi đỏ, thích mát, sợ nóng. Người thường bứt dứt hay cáu gắt, nước tiểu đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch hồng thực.
Bài 1: Ích mẫu, cỏ nhọ nồi tươi, rễ bánh gai, hồi đầu, vỏ núc nắc, bạch đồng nữ mỗi vị 20 gam; sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Sinh địa 12 gam, huyền sâm 8 gam, xuyên khung 8 gam, bạch thược 12 gam, hoàng cầm 12 gam, xuyên quy 12 gam, hoàng thiên 4 gam: sắc uống ngày một thang.
Bài 3: Hy thiêm thảo 160 gam, ích mẫu thảo 80 gam, hương phụ chế 80 gam, ngãi diệp 40 gam. Cách bào chế: hy thiêm thảo dùng toàn cây, rửa sạch tẩm rượu đồ cho chín, phơi khô; lại tấm rượu và đồ đủ chín lần; phơi khô sao vàng. Hương phụ chia làm 4 phần bằng nhau, mỗi phần tẩm riêng từng loại: tẩm đồng tiện tẩm rượu, tẩm muối, tẩm dấm thanh phơi khô sao vàng. Ích mẫu thái nhỏ phơi khô sao vàng; ngài diệp sao qua. Tất cả các vị tán bộ luyện với hồ làm viên to bằng hạt ngô. Cách dùng: Ngày uống 3 lần mỗi lần 20 viên. Người nhiệt nấu đỗ đen lấy nước làm thang. Người hàn sắc nước gừng lấy nước làm thang. Người có khi hư nấu bạch đồng nữ, kê huyết đằng lấy nước làm thang.
Trường hợp do âm hư hỏa vượng, làm âm huyết hư kém, nội nhiệt làm kinh ra trước kỳ nhưng ít, người thường hoa mắt, chóng mặt, trong người thấy nóng (phiền nhiệt).
Bài 1: Sinh địa 16 gam, huyền sâm, sa sâm, rễ cỏ tranh, rễ cây khởi, ích mẫu mỗi vị đều 12 gam, sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2: Sinh địa 16 gam, đương quy, xuyên khung, đan bi mỗi vị 8 gam bạch thược, địa cốt bì, mỗi vị 12 gam; sắc uống ngày một thang.
Nguyễn Hồng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998

Sai lầm thường gặp trong nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em có nguyên nhân kinh tế, xã hội phức tạp, tuy nhiên trên thực tế, cũng trong những hoàn cảnh tới, nhiều gia đình vẫn nuôi con khỏe mạnh, trẻ không bị suy dinh dưỡng.
Dinh dưỡng có vai trò quyết định trong việc tạo ra bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt đối với trẻ em, vì đây là những cơ thể đang lớn và phát triển.
Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ khỏe mạnh, thể lực phát triển cân đối, trí tuệ phát triển hài hòa và ngược lại, nếu không được ăn tốt sẽ ốm yếu, bệnh tật nhiều, trí thông minh bị ảnh hưởng. Trẻ càng nhỏ thì những khiếm khuyết về dinh dưỡng càng để lại những di chứng nặng nề về sau.
Tại Viện nhi Hà Nội, trong 130 trường hợp suy dinh dưỡng nặng năm 1988 chỉ có ¼ số các cháu từ những gia đình thực sự nghèo khó.
Đơn vị Phục hồi dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng I hàng năm quản lý khoảng 400 – 500 trẻ suy dinh dưỡng nặng và rất nặng, hướng dẫn về dinh dưỡng cho trên 2000 trẻ suy dinh dưỡng ở mức độ nhẹ hơn. Chúng tôi nhận thấy.
70 – 75% các bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng do thiếu kiến thức nuôi con.
10 – 15% các bà mẹ không thực hiện được việc nuôi con theo hướng dẫn, do khó khăn về kinh tế, chủ yếu đấy là những trẻ rất nhỏ không được nuôi bằng sữa mẹ và gia đình cũng không có khả năng mua đủ số lượng sữa.
Số còn lại bị suy dinh dưỡng do một bệnh lý mạn tính hoặc do cha mẹ quá bận rộn không có thời gian chăm sóc trẻ.
Qua việc tìm hiểu cách nuôi con của các bà mẹ, chúng tôi muốn nêu ra những sai lầm rất hay gặp trong việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ không những ở các bà mẹ mà cả các nhân viên y tế, các bác sĩ nhi khoa… nhằm góp phần vào việc hướng dẫn dinh dưỡng ngày càng hiệu quả hơn. Các khiếm khuyết ở đây được nêu ra đối với mỗi giai đoạn nuôi trẻ.
Giai đoạn trẻ trong 6 tháng đầu sau khi sinh
Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng đối với mỗi đứa trẻ. Chỉ có sữa mẹ là thức ăn phù hợp với trẻ ở lứa tuổi này. Sữa mẹ không những là tốt nhất mà còn phải là thức ăn duy nhất của trẻ trong giai đoạn này. Thế nhưng tỷ lệ trẻ được bú sớm còn rất thấp, mặc dù đa số trẻ được sinh tại các cơ sở y tế. Trên một nửa số trẻ chỉ được bú sau 24 giờ, nhiều khi sau vài ngày hoặc vài tuần. Các trẻ này thường được cho uống nước đường, cam thảo, mật ong hoặc sữa… làm cho trẻ không được tận dụng sữa non đồng thời ảnh hưởng đến việc tiết sữa sau này.
Đa số các bà mẹ muốn cho con bú nhưng tới một nửa gặp các trục trặc về kỹ thuật làm ảnh hưởng đến việc tiết sữa, gây mất sữa, thiếu sữa…
Giai đoạn trẻ từ 6 – 12 tháng
Các sai lầm trong giai đoạn này chủ yếu liên quan đến cách ăn bổ sung của trẻ.
Thời điểm ăn bổ sung (ăn sam, ăn dặm) đúng cho trẻ vào 4 – 6 tháng tuổi, nhưng có tới 1/3 số trẻ được cho ăn bổ sung quá sớm lúc 2 – 3 tháng tuổi làm cho trẻ không được tận dụng sữa mẹ, đồng thời dễ gây rối loạn tiêu hóa, dẫn đến suy dinh dưỡng.
Chất lượng thức ăn bổ sung:
Trên thực tế, qua tìm hiểu thức ăn dặm của trẻ 6 – 12 tháng cho thấy đa số trẻ chưa được cho thêm dầu mỡ vào thức ăn bổ sung, do đó bột của trẻ nghèo năng lượng. Các bà mẹ, thường chỉ sử dụng nước rau quấy bột cho trẻ, không dùng xác rau sợ trẻ mắc nghẹn cổ, sợ không tiêu hóa được… trong khi tiền sinh tố A chỉ có trong lá rau, đậu. Ăn thiếu rau cùng với việc thiếu dầu mỡ (cần thiết cho sự hấp thụ beta – caroten), làm cho nhiều trẻ bị thiếu vitamin A, dẫn đến khô loét giác mạc.
Một sai lầm khác thường gặp là các bà mẹ cho rằng nước thịt, nước hầm xương là đủ bổ, không cho trẻ ăn xác thịt, cá… trong khi các loại nước này hầu như không chứa đạm.
Các thức ăn cung cấp chất đạm thường được sử dụng đơn điệu, sợ cá, tép gây dị ứng, trứng có đờm v.v… nên dễ gây chán ăn, đồng thời tạo thói quen ăn uống thiên lệch, khó thay đổi về sau.
Giai đoạn trẻ 12 – 36 tháng
Thông thường các bà mẹ cho rằng trẻ nhỏ cần ăn rất ít, không nắm được trẻ cần ăn bao nhiêu trong 1 ngày chứ không phải không có khả năng cung cấp cho trẻ. Trung bình trẻ cần ăn 4 – 5 bát cháo đặc hoặc cơm nát mỗi ngày.
Nhiều gia đình cho rằng trẻ đã lớn nên ăn theo người lớn 2 – 3 bữa là đủ trong khi dung tích dạ dày của trẻ có hạn nên ngoài 3 bữa với gia đình, trẻ cần được ăn thêm 2, 3 bữa phụ như: sữa, cháo, chè, chuối v.v…
Trẻ biếng ăn thường được khuyên cai sữa để ăn khá hơn. Thực ra các trẻ này sau khi bị cai sữa, tình trạng dinh dưỡng càng suy sụp do trẻ vẫn biếng ăn lại bị mất đi 300 – 400 ml sữa mỗi ngày. Chỉ nên ngưng bú khi trẻ đã ăn được nhiều 4 – 5 bát mỗi ngày.
Trẻ nhỏ thường bị bệnh, một số bà mẹ lại kiêng khem quá đáng khi trẻ bị bệnh (tiêu chảy, ban đỏ…) làm cho trẻ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng rất nặng, thậm chí dẫn đến khô loét giác mạc gây mù lòa. Bởi vậy trẻ cần được tiếp tục cho ăn khi bị bệnh, ăn tăng cường (ví dụ: thêm một bữa phụ, sau mỗi đợt bệnh để lấy lại sức).
Bác sĩ Nguyễn Kim Hưng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998

Quy chế thông tin quảng cáo thuốc, mỹ phẩm

Mặc dù đã có “quy chế thông tin, quảng cáo thuốc và mỹ phẩm dùng cho người”, song vẫn còn một số đơn vị sản xuất, kinh doanh vi phạm như: tự ý tiến hành in ấn phẩm quảng cáo, giới thiệu các sản phẩm của đơn vị mình hoặc quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng khi chưa được Bộ y tế (Cục quản lý dược Việt Nam) xét duyệt nội dung và cấp phép đã gây ra tình trạng lạm dụng thuốc; hoặc có gửi hồ sơ xin phép quảng cáo nhưng không đúng theo quy định của quy chế. Để chấn chính và thực hiện tốt quy chế này. Cục quản lý dược Việt Nam yêu cầu sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sở y tế các ngành và Tổng công ty dược Việt Nam có văn bản nhắc nhở các đơn vị sản xuất, kinh doanh thuốc và mỹ phẩm thuộc phạm vi đơn vị mình quản lý.
Trước khi tiến hành in ấn phẩm quảng cáo giới thiệu thuốc, mỹ phẩm cho nhân dân cho cán bộ y tế hoặc quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, truyền thanh, báo, tạp chí…) phải gửi hồ sơ xin quảng cáo về Bộ y tế (Cục quản lý dược Việt Nam) để xét duyệt, cấp phép theo đúng quy chế.
Các tài liệu có trong hồ sơ xin phép quảng cáo gửi về Bộ y tế (đơn, kịch bản, tài liệu xác minh nội dung quảng cáo…) phải được đóng dấu xác nhận của đơn vị xin phép quảng cáo. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh tư nhân không óc dấu phải có chữ ký xác nhận của chủ cơ sở sản xuất kinh doanh.
Từ ngày 1/10/1998, hồ sơ xin quảng cáo giới thiệu thuốc và mỹ phẩm không thực hiện đúng các quy định trong quy chế theo hướng dẫn trên đều được coi là không hợp lệ.
Rau bi – na và cà rốt ngừa ung thư vú
Một công trình nghiên cứu ở Mỹ trên 13.000 phụ nữ cho thấy ở số người ăn rau bi – na (epinard) hoặc cà rốt trên hai lần trong tuần, nguy cơ mắc ung thư vú giảm 44% so với những người ăn ít hơn. Hai loại rau này chứa một hàm lượng quan trọng các sắc tố thực vật được gọi là carotenoit có khả năng phòng ngừa ung thư. Ngoài ra còn tác dụng không làm tăng cân nặng.
Tác nhân Anabolic steroid trong điều trị loãng xương
Hiện nay loãng xương là một vấn đề đáng chú ý trên thế giới, ảnh hưởng đến sức khỏe của khoảng 75 triệu người. Chi phí điều trị cho bệnh loãng xương rất cao 2,3 triệu trường hợp gãy xương do loãng xương mỗi năm.
Loãng xương là một vấn đề thường gặp ở người già và ảnh hưởng hơn 35% phụ nữ trên 70 tuổi. Người ta nhận thấy tốc độ tiêu xương ở phụ nữ gia tăng sau khi mãn kinh, loãng xương ở nam ít gặp hơn: tỉ lệ gãy cổ xương đùi ở nam chiếm 1/3.
Các anabolic steroid (nandrolone decanoate – ND) có vai trò quan trọng trong các tác nhân điều trị hiện nay, đặc biệt có người già đã bị loãng xương. ND có thể làm tăng chất khoáng xương do đó làm giảm nguy cơ gãy xương.
Trần Lan –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nước uống tập luyện

Khoa học đã chứng minh, nước là một thành phần quan trọng cấu thành nên cơ thể con người. Trong một ngày, cơ thể con người cần thiết bổ sung 2,5 lít nước đã thải ra các đường như: hô hấp, nước tiểu, mồ hôi… Các nhà khoa học cũng chứng minh rằng thức ăn đã cung cấp 1 lít nước cho cơ thể, còn 1,5 lít kia phải được nước uống mang lại. Trong luyện tập thể dục thể thao, vấn đề nước uống còn quan trọng hơn bởi với lượng vận động cao, cơ thể người tập, thi đấu sẽ mất nước nhiều hơn bình thường. Nếu Vận động viên luyện tập với cường độ cao, trong 1 giờ Vận động viên đó đã mất lượng nước bằng đúng cơ thể tiêu thụ trong một ngày tức 2,5 lít nước. Chính vì vậy, việc bổ sung nước uống trong tập luyện Thể dục thể thao là vấn đề cực kỳ quan trọng. Bởi nếu không bổ sung kịp thời thì cơ thể ta sẽ rơi vào trạng thái nguy hiểm vì thiếu nước.
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là uống nước như thế nào cho đúng? Nhiều người, ngay cả các Vận động viên chuyên nghiệp cũng thường suy nghĩ rất đơn giản: “Khát thì uống, uống đến khi nào hết khát thì thôi”. Thật ra nếu, chúng ta biết uống như thế nào cho điều độ, uống đủ nước khi cần thì lại có ích lợi vô cùng lớn.
Đối với các Vận động viên, hai giờ trước khi thi đấu bạn hãy uống khoảng 50ml nước để tạo điều kiện cho sự bài tiết mồ hôi. Còn trong khi luyện tập thì bạn hãy uống vào các lần nghỉ để kiểm tra xem uống bao nhiêu là đủ, bạn hãy thử tính trọng lượng nước trong và sau khi tập luyện. Còn nếu thực hiện những buổi tập với cường độ lớn, căng thẳng kéo dài hơn 1 giờ thì bạn phải duy trì lượng glucose trong máu bằng cách uống một lượng nước là 450 – 950 ml. Trong thành phần của lượng nước này phải chứa từ 4 – 5% carbohydrat (không quá 10%, vì nó sẽ ảnh hưởng lớn đến men tiêu hóa của bạn). Các loại carbohydrat có thể dùng được là: glucose, sancrose, maltodextrin. Ngoài các loại nước uống có chứa carbohydrat, các Vận động viên cũng như mọi người khi tập luyện, thi đấu thể thao nên uống những loại nước uống có chứa nhiều thành phần Vitamin B (những thành phần này đặc biệt có nhiều trong sữa). Sự cấp bách trong vấn đề nước uống đã được giáo sư, tiến sĩ Clark, Trưởng bộ môn dinh dưỡng thuộc trường Đại học y học thể thao thuộc tiểu bang Pensylvania (Hoa Kỳ) khẳng định: “Cơ thể con người cần hai giờ để tái tạo Glycogen một cách hiệu quả, sau đó tiến trình này diễn ra rất chậm. Vì vậy, để cơ thể được thăng bằng trong trạng thái tốt thì phải bổ sung nước uống một cách đúng lúc”.
Vâng có thể nhiều lúc chưa chú trọng đến nước uống, nhưng bạn hãy nhớ rằng, nước trong thành phần dinh dưỡng của cơ thể được người ta xếp trên cả protein chất béo. Vitamin, chất khoáng, chất sắt và nếu ai đó chỉ cần mất một lượng nước bằng 2% trọng lượng cơ thể sẽ gây nên các chứng rối loạn tim mạch, ngăn chặn sức nóng thẩm thấu qua da… Tốt nhất là bạn nên uống khi khát, nhưng hãy uống cho đúng, cho khoa học.
Thể thao thế giới
Trung tâm y học Thể dục thể thao: dự kiến sẽ khánh thành vào tháng 12/98 tại 141 Nguyễn Thái Học. Lần đầu tiên ở nước ta ra đời một trung tâm y học thể dục thể thao quy mô như thế. Dự tính ban đầu sẽ có 20 giường bệnh cùng các máy móc thiết bị hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu và điều trị các chấn thương thể thao, hồi phục phong trào thi đấu cho vận động viên sau chấn thương và sau thi đấu.
7 giờ 30 phút sáng 28/9 tại quảng trường Ba Đình Hà Nội sẽ diễn ra lễ ra mắt trung tâm UNESCO thái cực trường sinh đạo. Tại buổi lễ sẽ có các màn đồng diễn phong phú, đẹp mắt chào mừng ngày quốc tế người cao tuổi do các học viên, giáo viên thái cực trường sinh đạo biểu diễn.
Từ 25/9 – 10/10 tại TTHLQG 1 (Nhổn), lớp đào tạo Huấn luyện viên tự do và cổ điển do giảng viên của Tổ chức Olympic quốc tế (IOC) cử đến Việt Nam. Kết thúc khóa học sẽ có khoảng 30 Huấn luyện viên Việt Nam được cấp bằng quốc tế.
So với 8 huấn luyện viên tại Sea games 19 Sea games 20 tại Bruney, bắn súng Việt Nam chỉ tham dự có tính chất học hỏi. Do nước bạn chỉ có trường bắn cho một loại là bắn đĩa bay nên các loại hình bắn súng sở trưởng của ta không tham dự.
Giải vô địch bắn súng quốc gia lần thứ 34 sẽ diễn ra từ 1 – 13/10 tại TTHLQG. Cũng như mọi năm, giải là dịp đánh giá trình độ huấn luyện viên của từng địa phương, trình độ đẳng cấp Vận động viên cũng như rà soát lực lượng Vận động viên chuẩn bị Asiad 98 các giải khu vực và Sea games 2003 tại Hà Nội.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Bỏng do ăn vôi

Cháu Đỗ Thị Vui 20 tháng tuổi ở Hà Hiệp – Hà Tây, nhặt cục vôi chưa tôi cho vào miệng ăn, sau đó bị bỏng nặng. Tại Viện tai mũi họng cháu được các bác sĩ cấp cứu kịp thời nên tránh được cơn nguy biến. Gia đình có con nhỏ phải trông giữ cẩn thận nhất là lúc các cháu chập chững tập đi, vì chúng vớ được gì cũng cho vào mồm.
Đừng coi thường…
Anh Nguyễn Văn Biện 36 tuổi ở Song Mai, Bắc Giang, đang khỏe mạnh thì bỗng dưng xuất hiện triệu chứng (lúc trái gó, trở trời): khó thở, da tím ngắt, kém ăn uống… Các bác sĩ đã soi thanh quản và gấp ra một chiếc răng giả. Anh Biện cho biết chiếc răng anh đã nuốt cách đây 5 năm!
Ăn rau nên nhớ
Ngày 4 – 9 – 1998 2 bạn Lương Thu Hương, Nguyễn Bảo Chân là sinh viên trường đại học Dược Hà Nội, đang giờ học thì bị đau bụng quằn quại, toát mồ hôi hột. Nguyên do buổi trưa hôm đó 2 bạn ăn cơm canh rau cải ở quán bình dân (đường Phan Huy Chú). Thời tiết nóng, rau cải được tưới bằng hóa chất không có điều kiện phân hủy nên đã gây hậu quả. Vậy khi mua rau về ta phải rửa ngâm thật kỹ trước khi nấu.
Khách đám cưới vào… phòng cấp cứu
Ngày 9 – 9 – 1998, 42 người dự đám cưới ở xã An Nông (Tam Nông – Đồng Tháp) sau khi ăn xong đã đồng loạt đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy phải vào phòng cấp cứu. Tìm hiểu mới hay trong mâm cỗ có món súp cua biển hết “đát”. Tưởng sau bữa tiệc được đi đón dâu ai ngờ… Các gia chủ những bữa tiệc khác nghĩ sao.
Sức khỏe & dời sống đây
Khác nhiều báo khác. Đọc Sức khỏe đời sống. Chúng tôi thường giữ lại vì trong đó có bao điều cần thiết cho sức khỏe, nhất là với chúng tôi những người lính ở biên cương tổ quốc. Có đồng chí còn chép lại bài báo gửi về quê cho “bu nó” để biết mà chăm sóc cho tốt thằng cu mới sinh. Riêng tôi hơi bị phiền phức vì trong đơn vị có hai đồng chí đố nhau: Báo Sức khỏe đời sống có bao nhiêu mục? Và tôi làm trọng tài. Nhưng “trọng tài” này không phải trọng tài bóng đá nên cả hai bên cùng… không phục. Xin sức khỏe đời sống cho đáp án!
Nguyễn Văn Lẫm (Hà Giang)
Trọng tài bị thẻ vàng và đồng chí định đá quả bóng về cho Sức khỏe đời sống nhưng có khi chúng tôi cũng bị… việt vị như đồng chí. 16 trang mỗi số không phải lúc nào cũng đủ các mục vì… báo có nhiều mục. Vả lại, các mục luôn cải tiến nên không hiểu các đồng chí định tìm hiểu trong thời gian nào. Hiện nay Sức khỏe đời sống có các mục như:
Trang 1: Ảnh đẹp, Qua phòng cấp cứu
Trang 2: Tin tức, Y tế địa phương
Trang 3: Qua phòng cấp cứu, Thư bạn đọc, Ý kiến công dân, Bạn đọc viết, Hồi âm, Theo thư bạn đọc, Trao đổi, Sức khỏe đời sống đây, Đặt tên cho ảnh.
Trang 4: Gặp gỡ, Phiếm đàm, Phóng sự
Trang 5: Phóng sự, Diễn đàn, Thầy thuốc kể chuyện, Chuyện đời thường, Đọc nhanh các báo.
Trang 6, 7: Dân số và phát triển, Dinh dưỡng cho mọi nhà, Thầy tại chỗ – thuốc tại chỗ, Lời khuyên của thầy thuốc, Sức khỏe nói chuyện, Chuyện lạ ngành y, Bạn có biết.
Trang 8, 9 là trang thể thao – Khỏe đẹp
Trang 10, 11: Thơ, Truyện ngắn, Chân dung văn nghệ sĩ, Thư giãn, các bài về Văn hóa, nghệ thuật, tin Văn hóa nghệ thuật.
Trang 12 về y học cổ truyền có Tủ thuốc xanh, Chữa bệnh không dùng thuốc.
Trang 13: Dạo quanh thị trường thuốc, Tủ thuốc gia đình, Dùng thuốc nên biết, Có thể bạn chưa biết, Thuốc cấm lưu hành.
Trang 15 về Quốc tế có chuyên mục Sự kiện và ý kiến, Qua mạng Internet.
Tất nhiên còn mục nữa là… Quảng cáo.
Nhân đây, bạn đọc và Cộng tác viên gửi về tòa soạn thư hỏi, yêu cầu, bài, tin, ảnh xin đề thêm ngoài phong bì tên trang, mục để biên tập viên trả lời và sử dụng nhanh nhất.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nho một loại quả ngon và bổ

Nho, theo y học cổ truyền có vị ngọt, chua, tính bình, có tác dụng tư thận ích gan, bổ huyết, cường cân kiên cốt, thông kinh hoạt lạc, bổ khí hòa trung… có thể dùng để chữa trị các chứng khí huyết hư nhược, phổi yếu hay ho, phong thấp đau xương, hay hồi hộp, ra mồ hôi trộm, tiểu tiện khó, da mặt vàng vọt, người gầy gò. Theo “Thần nông bán thảo kinh” thì nho “ích khí bội lực, béo tốt, chịu đựng được đói khát, gió rét. Có thể dùng làm rượu. Trong cuốn “Tùy tức cư ẩm thực phổ” viết: nho “bổ khí, làm tăng dịch thận, bổ ích gan âm, cứng gân cốt, giải khát, an thai”.
Khoa học hiện đại về y dược học đã chứng minh là nho có thể giúp cho việc chữa trị bệnh thiếu máu, huyết áp thấp, viêm dạ dầy mạn tính, viêm các khớp do phong thấp mạn tính…
Trong mỗi 100 gam nho tươi có chứa 0,6 mg sắt, có tác dụng cải thiện tình trạng thiếu máu, làm da thịt thêm hồng hào, mịn màng. Người thể chất hư nhược, huyết áp thấp, thiếu máu, gầy gò, sau bữa ăn hàng ngày ăn một ít nho tươi hoặc nho khô, hoặc uống một ít rượu vang có thể làm cho thân thể khỏe mạnh, chữa trị được bệnh tật, da dẻ hồng hào, mịn màng.
Phụ nữ khi mang thai, ăn một số lượng nho vừa đủ (nho tươi hoặc khô cũng được) sẽ có tác dụng an thai, có lợi cho sự phát triển của thai nhi, và còn có thể làm cho da thịt của cả mẹ và con đều mịn màng, trắng trẻo.
Nho tuy ăn ngon, nhưng mỗi lần không nên ăn thiếu, nếu không sẽ có tác dụng phụ, như đau bụng, tiêu chẩy, bồn chồn, mắt hoa…
Nho có hàm lượng đường cao, có tác dụng làm cho người béo ra, do đó người béo không nên ăn.
Chữa kinh bế
Người phụ nữ đang thấy kinh bình thường, đột nhiên bị tắt kinh mà không phải là có thai, đồng thời phát sinh bệnh trạng ảnh hưởng đến sức khỏe, như vậy là bế kinh.
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây bế kinh thường do huyết hư, tỷ hũ, hoặc huyết ứ.
Trường hợp do huyết hư: Người bệnh không thấy kinh 2 – 3 tháng, các mặt vàng úa, đầu mặt choáng váng, tim hồi hộp, người gầy yếu, da khô, mạch hư tế. Nguyên nhân thường do cơ thể vốn suy yếu, mắc bệnh lâu ngày, thiếu máu. Có thể dùng bài thuốc sau:
Hà thủ ô (chế) 40 gam, củ gấu (chế) 40 gam, đậu đen (sao) 40 gam, củ gai (sao) 20 gam, lá sung (sao) 40 gam, ích mẫu 20 gam, ngải cứu 16 gam.
Cách dùng: Cho các vị vào ấm, đổ một ít nước, sắc còn 450ml, chia làm 3 lần uống trong ngày. Cũng có thể làm hoàn mà uống.
Trường hợp do huyết ứ, huyết ngưng: Người bệnh sắc mặt xanh sẫm, bụng dưới đau, nắn vào thấy cứng, bụng đầy trướng khó chịu, miệng khô, chất lưỡi đỏ sâm hoặc có điểm tía, mạch huyền sác. Phép chữa là hoạt huyết tiêu ứ (làm cho huyết lưu thông, hết ứ). Dùng một trong những bài thuốc sau:
Bài 1: Củ gấu (chế): 40 gam, ngải cứu: 16 gam, nghệ xanh: 20 gam, ích mẫu 20 gam, mẫn tưới: 30 gam, cỏ roi ngựa: 30 gam. Nếu hàn nhiều gia thêm: gừng khô 8 gam, quế tâm 8 gam.
Cách dùng: cho các vị vào ấm, đổ 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
Bài 2: Ô dược: 6 gam, hà thủ ô: 12 gam, xuyên khung: 6 gam, mạch nha: 20 gam, đào nhân: 8 gam, mộc hương: 6 gam, thanh bì: 6 gam, hương phụ (chế): 12 gam, xích thược: 12 gam.
Cách dùng: Sắc uống như trên.
Thu Anh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Khó lắm thay cho ứng xử giữa thầy thuốc và bệnh nhân

Thầy thuốc như mẹ hiền là cách ứng xử giữa thầy thuốc và bệnh nhân được Bác Hồ cô đúc một cách xúc tích nhất. Hình như thời kinh tế thị trường đẻ ra khái niệm “khách hàng là thượng đế”, “khách hàng luôn luôn đúng” cho mối quan hệ người mua kẻ bán lại quàng cả vào bệnh viện dù ở đó có người phục vụ và người được phục vụ.
Không, một ngàn lần không nếu coi bệnh nhân là kẻ mua còn thầy thuốc là người bán. Nếu coi như vậy sẽ dẫn đến hai khả năng:
Cửa quyền như thời bao cấp vì “người mua” không có chuyên môn hoàn toàn phụ thuộc vào “kẻ bán”. Thái độ hách dịch, vô trách nhiệm sẽ từ đó phát sinh.
“Khách hàng luôn đúng” sẽ tạo ra thái độ xu phụ với bệnh nhân mà nghịch lý ở đây là người hiểu biết chuyên môn lại phải chiều theo những người không hề biết chuyên môn cốt vừa lòng họ (người bệnh) chứ không vì mục đích chữa bệnh.
Thầy thuốc phải như mẹ hiền vì quan hệ mẹ con là quan hệ tình thân, thương yêu khó có quan hệ nào thiêng liêng và hy sinh hơn. Nhưng có lúc mẹ cũng cần mắng con nếu con không biết nghe lời mẹ. Khi là quan hệ mẹ con sẽ có sự dỗ dành, giận mắng vì mục đích chung là đạt được điều tốt đẹp mà hai bên đều mong muốn. Tất nhiên, chúng tôi nói quan hệ mẹ con trong quan hệ thầy thuốc, bệnh nhân không có nghĩa trong một thầy thuốc và một bệnh nhân cụ thể để rồi từng nhân viên y tế tự cho mình như mẹ thiên hạ. Hẳn bạn đọc hiểu được điều này.
Đã có chuyện bệnh nhân tử vong trong buồng bệnh nhân cụ thể để rồi từng nhân viên y tế tự cho mình như mẹ thiên hạ. Hẳn bạn đọc hiểu được điều này.
Đã có chuyện bệnh nhân tử vong trong buồn bệnh và rồi người nhà khóc lóc ảnh hưởng tới bệnh nhân khác. Có trường hợp gia đình bệnh nhân không muốn đưa thân nhân xuống nhà xác mà cứ đợi để thuê xe đem về quê. Thầy thuốc khuyên giữ gìn trật tự liền bị người nhà Bệnh nhân túm ngực áo lôi đến trước bảng quy định 12 điều y đức chỉ vào điều 9 “Phải thật sự thông cảm…” Biết làm sao khi thông cảm với người này tức là không thông cảm với những người khác ngay trong một khoa, buồng bệnh!
Khi chúng ta quan tâm với Văn hóa y tế trong ứng xử hẳn sẽ giải quyết êm đẹp mối quan hệ phức tạp đầy khoảng cách này. Trước hết, các cơ quan chức năng của Bộ y tế, các cơ sở y tế cần chú ý đầu tiên. Không ít lần tôi đến chú ý đầu tiên. Không ít lần tôi đến Vụ A, Vụ B của Bộ y tế được người có trách nhiệm vẫn ngồi nguyên trên ghế ngước mắt hỏi: “Có chuyện gì đấy”. Sao không thể tặng nhau một ánh mắt thân thiện với lời mời ngồi trước khi muốn biết yêu cầu của người đến tim mình. Không lẽ cán bộ ta bận đến mức phải tiết kiệm từng phút và thái độ chân tình có được khó lắm sao? Chuyện trả lời điện thoại cũng tương tự với những “ai đấy”, “có việc gì đấy” hoặc một cái cúp máy vô tiền khoáng hậu.
Công việc và văn hóa trong công việc là điều cả nhân loại đang hàng ngày rèn giũa, lẽ nào chúng ta, nhất là ngành y với công việc của người thầy lại lãng quên.
Trần Thọ – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998