Hoa chông vàng

Ai đã qua vùng Đồng Tháp Mười, đều được nghe kể về kinh nghiệm chữa rắn độc cắn của đồng bào địa phương bằng một cây thuốc rất độc đáo. Chính kinh nghiệm lâu đời này do bác sĩ Trần Văn Dược (dân quen gọi là ông Tư Dược) truyền lai. Nhiều người bị rắn độc cắn đã được ông chữa khỏi. Không những có kinh nghiệm chữa mà ông còn chẩn đoán chính xác tình trạng bị độc bằng cách xem chân tóc. Nếu chân tóc ở da đầu còn trắng là còn chữa được, ngược lại chân tóc đã xám đen thì nguy hiểm khó cứu chữa. Trại nuôi rắn Đồng Tâm ở tỉnh Tiền Giang (nơi thử nghiệm đầu tiên) đã trồng nhiều cây thuốc quý này để cung cấp dược liệu tươi cho nhân dân quanh vùng và phát giống cho các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Cây thuốc độc đáo đó là cây hoa chông vàng (tên khác là kim vàng, gai kim bóng, trâm vàng, sơn đông). Đó là một cây bụi nhỏ, sum sê, cao khoảng 1 mét. Thân phận cành từ gốc, có nhiều gai nhọn, vỏ ngoài nhẵn màu nâu. Là mọc đối có cuống ngắn, dài 6 – 9cm, rộng 1 – 1,5cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mặt trên sẫm bóng, gân giữa nổi rõ màu vàng nhạt, lá kèm biến đổi thành gai thẳng, cứng nhọn, dài 1 – 2cm. Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành bông, gồm 18 – 20 hoa màu vàng tươi, kèm theo những lá bắc to xếp lợp; đài hoa gồm những thùy nhọn như gai: tràng hoa hợp thành ống hẹp, chia hai môi, môi trên có 4 canh rộng, tròn gần bằng nhau, môi dưới có 1 cánh hẹp; nhị 2. Quả nang chứa hai hạt dẹp, có vỏ ngoài cứng rắn. Mùa hoa quả vào tháng 10 – 12.
Hoa chông vàng có nguồn gốc ở các đảo Morise, Madagascar, được nhập trồng từ lâu đời để làm cảnh, nay đã trở thành cây mọc tự nhiên ở bờ bãi, ven đường, gò đống, nơi có nhiều cây bụi, phân bố ở các tỉnh phía nam. Cây còn được trồng làm hàng rào vì cành lá mọc khỏe, phát triển nhanh, dễ kén chặt vào nhau, khó xuyên qua. Trồng bằng hạt hoặc cành giâm.
Lá hoa chông vàng có vị đắng, tính mát; hoa có vị ngọt, thơm, không độc, có tác dụng giải độc, tiêu máu ứ. Cách chữa rắn độc cắn cụ thể như sau: Lấy lá tươi (10 – 20 gam) rửa sạch, giã nát với phèn chua (2 – 3 gam), thêm nước, gạn uống, bà đắp. Ngày làm 2 – 3 lần. Nếu người bị nạn cắn chặt răng, không tự uống được thì cậy miệng ra để đổ thuốc vào. Dùng vài ngày là khỏi.
Bệnh viện y học dân tộc tỉnh Đắc Lắc lại pha chế rượu chữa rắn độc cắn gồm lá hoa chông màu vàng, bột cây sóng rắn và phèn chua, trong uống, ngoài đắp. Thuốc đã cứu chữa thành công 50 trường hợp, trong đó có trường hợp bị nặng, toàn thân phù nề, xuất huyết nội tạng.
Nhân dân ở một số nơi còn dùng cây hoa chông vàng làm thuốc tiêu đờm, giảm đau, chữa ho, sốt ở trẻ, viêm họng, tê thấp, kiết lỵ (sắc uống), mụn nhọt, sưng tẩy (giã đắp).
Tại sao nước oxy già mất tác dụng sát khuẩn
Nước oxy già khác nước thường như thế nào? Tại sao nước oxy già khi để lâu thì không thấy có tác dụng như lúc mới mua vé?
Nguyễn Tuấn Anh (học sinh)
Nước oxy già được dùng trong y tế để làm thuốc sát khuẩn, tẩy uế. Nó chính là dung dịch hydroperoxyt trong nước có công thức là H2O2. Loại nước oxy già thường bán ở các hiệu thuốc có nồng độ 3%. Thường thì, các công ty dược mua nước oxy già đậm đặc có nồng độ 30% ở nơi sản xuất về pha loãng ra để đóng lẻ bán tại các hiệu thuốc. Nước oxy già không bền vì H2O2 phân hủy giải phóng oxy. Do đó nế mua về để lâu không dùng mà lại không đậy kỹ thì nó sẽ trở thành nước thường H2O. Vì vậy các nhà sản xuất phải bảo quản nước oxy già trong bình sành hoặc chai thủy tinh sẫm màu, chai nhựa nút kín, để chỗ mát, tránh ánh sáng, tránh va đập mạnh… vì đó là những xúc tác để phản ứng oxy hóa xảy ra.
Nước oxy già có tác dụng sát khuẩn chính là nhờ phản ứng phân hủy giải phóng oxy. Chính sự giải phóng ra oxy mà nó làm oxy hóa các hệ enzym trong nguyên sinh chất của vi khuẩn. Ngoài ra do tạo được nồng độ oxy cao, nó kìm hãm các vi khuẩn yếu khi. Oxy giải phóng ra còn có tác dụng cơ học là quét máu mủ đọng trong các vết thương ra ngoài, giúp cho việc gỡ băng gạc, rửa vết thương dễ hơn.
Nước oxy già chỉ dùng ngoài để sát khuẩn tai, răng – miệng, sút miệng khi tưa lưỡi, băng rửa vết thương, làm trăng răng trong nha khoa.
DS. Lê Quốc Thịnh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *