Hướng dẫn cách sử dụng bộ đàm

Ngày nay máy bộ đàm được coi như là một thiết bị thiết yếu mà bất cứ nhóm làm việc nào cũng đều cần thiết phải có.Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ cách sử dụng bộ đàm, rất nhiều khách hàng gặp khó khăn trong khi làm việc với nó. Hôm nay chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn cách sử dụng chúng đúng chuẩn và dễ dàng nhất.
Hướng dẫn sử dụng bộ đàm
Tùy thuộc vào nhãn hiệu của bộ đàm sẽ có cách sử dụng nhất định, nhưng về cơ bản gồm các thao tác sau :tắt mở bộ đàm,tùy chọn kênh để liên lạc,tùy chỉnh âm thanh lớn nhỏ hợp lí,quy trình liên lạc nói nghe và cách sạc bộ đàm.Đầu tiên là cách tắt mở chúng. Nút tắt và mở nguồn thường là nút vặn (xoay) ở trên đầu của máy, nó cũng chính là nút tùy chỉnh âm thanh lớn nhỏ của máy  bộ đàm. Ở một số loại máy khác có bàn phím ở phía trước thì nút tắt mở nguồn có thể được tích hợp thành một nút bấm ở trên bàn phím. Để tùy chọn kênh liên lạc với các máy cùng kênh chỉ cần xoay nút chuyển kênh nằm cạnh nút nguồn.Còn với máy có bàn phím thì thao tác chuyển kênh được thực hiên bằng 2 nút bấm ˄  hoặc˅.Các máy bộ đàm đều có nút lớn nằm phía bên trái của máy đó là nút PTT.Khi bạn muốn liên lạc với người khác qua bộ đàm thì phải bóp giữ nút này trong suốt quá trình trò chuyện.Sau khi nói xong thì thả nút PTT ra để nhận lại tín hiệu từ người kia.Cách sạc pin cho máy bộ đàm cũng dễ dàng vô cùng, bạn chỉ cần tắt máy tháo pin ra khỏi máy để sạc.
Những lưu ý khi sử dụng
Cách sử dụng bộ đàm khá dễ dàng song bạn cần chú ý tới một số điểm sau: khi tắt mở nguồn máy thì pin sạc phải được lắp đúng quy định vào máy.Pin của máy đã được sạc đầy theo yêu cầu sử dụng.Chú ý khi tùy chọn kênh liên lạc,máy phải được cài đặt tần số sử dụng hợp lí, chọn đúng kênh liên lạc đã được quy định trước.Không được liên lạc qua bộ đàm khi không có anten,hạn chế việc sử dụng máy khi pin yếu hoặc đang sạc pin bởi chúng sẽ làm hỏng máy hoặc làm cho chất lượng của bộ đàm giảm sút dần.Phải sạc đầy pin cho những bộ đàm mới hay pin mới mua để đảm bảo cho quá trình sử dụng máy.Nên sạc pin khi đã sử dụng hết,để nguội pin trước khi sạc và lắp vào máy.Trong trương hợp chưa sử dụng đến bộ đàm thì nên bảo pin bằng cách sạc đầy và thường 1 tháng sạc một lần.Trên đây là những lưu ý rất bổ ích cho quý khách hàng khi sử dụng máy bộ đàm,hi vọng bạn sẽ không còn gặp khó khăn khi sử dụng nó.
 

Từ truyền thống đến Installation – Phần 1

Sau 30 năm chiến tranh, nhất là từ khi thực hiện “đổi mới”, hội họa ở Việt Nam phát triển ào ạt, các cuộc triển lãm chen nhau, chạy theo nhau đến chóng mặt. Đủ thứ trào lưu hiện đại được du nhập từ nước ngoài, trong đó mấy năm gần đây có loại hình mà tiếng Anh, tiếng Pháp, gọi là Installation.
Anh bạn Lê Thanh Đức,nghiên cứu sâu về nghệ thuật, dịch từ ấy là Dàn Dựng… loại hình này ra đời do nhu cầu một số nghệ sĩ cuối thế kỷ 20 (những năm 80, ở Tây  u) cảm thấy cần có một giải pháp tạo hình tổng hợp (vẽ, ảnh, điêu khắc, điện ảnh, băng hình, băng tiếng, đạo cụ…) để thể hiện hết cảm nhận đa chiều trong một thế giới đầy ắp thông tin, biến chuyển từng giây từng phút. Tác phẩm đòi hỏi không gian rộng, nó phải truyền được bản thông điệp của tác giả qua một ngôn ngữ phức tạp. Mùa thu năm ngoái, trong cuộc triển lãm khổng lồ Memento Metropolis (hồi ức thành thị) ở thủ đô Thụy Điển Stockholm, tôi có dịp xem một số tác phẩm dàn dựng. Cuộc triển lãm đặt ra những câu hỏi về tương lai các thành thị lớn: sự tàn phá và canh tân nền văn minh? Để gợi cảm giác vô lý, tuyệt vọng hay hoang mang, một số ‘dàn dựng’ (có đề tài chiếm cả một gian buồng to) sử dụng máy chạy ầm ầm, những ống nhựa to chằng chịt như rắn, những tia điện chạy trên không gian, bộ sưu tầm những đồ linh tinh nhặt được ở bên cảng Côpenhagen trong mấy tháng (đinh ốc, vỏ thuốc lá, bật lửa, đồng xu… )
Có một số nghệ sĩ Việt Nam đã sáng tác theo mô hình “dàn dựng”, trong đó có người muốn lập dị hoặc sinh cái mới.
Trường hợp của nữ họa sĩ Đặng Thị Khuê thì khác. Chị đã đến với installation từ truyền thống. Phải nói ngay rằng hội họa đối với chị không phải là một cái nghề mà là một cái nghiệp. Nói vậy hẳn không mất chị vì hình như chị đương chịu ảnh hưởng thiền, ngoài một số tư tưởng phương đông khác như dịch, âm dương… Ít nhất trong những tìm tòi, nghiên cứu, thể nghiệm nghệ thuật. Tôi ít thấy nghệ sĩ nào chịu khó học hỏi, ghi chép như chị.
Sinh năm 1946 trong một gia đình cán bộ chịu ảnh hưởng nho học, Đặng Thị Khuê là người Hà Nội nhưng có cái may mắn là được sống bôn ba trên nhiều miền đất nước, hòa quyện với nhân dân, nông thôn và xóm làng. Còn bé, chị đã lang thang theo bố mẹ đi kháng chiến ở nhiều làng, do đó, đã gần không khí đình chùa, miếu mạo. Thời thơ ấu, phố Hàng Mã đã ám ảnh chị bằng những đồ cúng bằng giấy màu sặc sỡ, những hình nhân đặc sắc… Chị thích vẽ từ bé và cứ tự học dần. Năm 14 tuổi, chị thi được vào học họa ở một trường trung cấp. Ra trường, khoảng 19 – 20 tuổi, chị nhận công tác ở ty thông tin Vĩnh Phú (năm 1966). Những năm làm cán bộ thông tin thời gian chống Mỹ này là những năm tôi luyện. Đặng Thị Khuê làm đủ thứ, tự vệ, tự khắc, tự in tranh áp – phích tuyên truyền, cày cấy với nông dân, trồng rau, dạy vẽ cho thanh niên nông thôn, vẽ ở nơi xạ thủ bắn máy bay, đi chiếu phim đèn chiếu và thuyết minh, hát dân ca trước khi tự mình nói chuyện thời sự. 
Hữu Ngọc – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999

Từ truyền thống đến Installation – Phần 2

Nhưng Đặng Thị Khuê vẫn bị ám ảnh bởi sáng tác. Chị lượm lặt những đồ linh tinh như chai lọ, những viên đá… để gắn chúng thành những kết cấu tạo hình.
Đặng Thị Khuê trở về Hà Nội, học trường cao đẳng mỹ thuật khóa 1971 – 1976. Chị chuyên về sơn dầu và đồ họa.
Chị vừa sáng tác nghệ thuật, vừa “dấn thân” vào công tác xã hội trong gần chục năm: chị làm ủy viên thường vụ ban chấp hành hội mỹ thuật Việt Nam, ban thư ký hội nghệ sĩ tạo hình, đại biểu quốc hội. Năm 1990, chị về viện mỹ thuật làm công tác nghiên cứu cho đến nay.
Công việc sáng tác của chị có mấy giai đoạn, đều mang tính quyết liệt và tính trí tuệ của nam giới với tình cảm say mê nữ tính.
Giai đoạn đầu (những năm 70 cho đến giữa những năm 80) là giai đoạn “dấn thân”, đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ. Chị thành công trong sơn dầu là một thể loại dường như ít hợp với nữ (giải nhất về sơn dầu triển lãm toàn quốc 1980). Chị thể hiện đời sống hậu phương đối với đồ họa vững, phong cách mạnh mẽ, mà không sống sượng, những đề tài ước lệ (gia đình bộ đội, thương binh về làng, giặc Mỹ). Trên cơ sở hiện thực xã hội chủ nghĩa, chị vẽ theo kiểu ấn tượng và lập thể.
Sang giai đoạn sau (cuối những năm 80), Đặng Thị Khuê hướng nội nhiều hơn trong việc cách tân ngôn ngữ hội họa, với người đàn bà và bát đũa, những cái ghế, những mô típ từ nghệ thuật cổ và mô típ Tây Nguyên.
Từ những năm 90, sau khi rũ khỏi công tác hành chính, Đặng Thị Khuê đi sâu vào nghiên cứu để tìm về những ấn tượng từ thời thơ ấu, tìm sâu cội nguồn dân tộc, cố khám phá xem đặc điểm vô hình, cái thần của tính dân tộc ở đâu. Năm 1996, sau khi tham dự triển lãm nghệ thuật Châu Á – Thái Bình Dương ở Úc về Đặng Thị Khuê tự tin về những tìm tòi của mình. Chị thấy Installation có thể diễn tả được lối đa dự cảm của mình về tính dân tộc.
Đến xưởng của chị, thực ra chị không có tiền làm xưởng mà phải đi mượn nhà bạn hoặc thuê nhà kho rẻ, thấy nhiều vật liệu thuộc thủ công truyền thống. Cánh tay gỗ, guốc gỗ, dải lụa màu, liếp tre, đồ mã, nón quai thao, đồ thờ mẫu… Một mô típ được Đặng Thị Khuê ưa thích là cánh tay gỗ theo mẫu tượng phật bà quan âm nghìn mắt nghìn tay. Cách chị xử lý cánh tay ấy nói lên ý nghĩ thầm kín của chị về tính dân tộc: cánh tay, bàn tay giữ nguyên tính chất hơi thở của cô gái nông thôn cổ, những ngón tay bắt quyết lại vuốt lên; như vậy cái thế tục đi với cái thiêng liêng, gỗ để mộc không sơn, giữ tính chất mộc mạc của nông dân.
Việc sắp xếp linh động và bất ngờ như trên tạo ra những “dàn dựng” biểu hiện tính dân tộc một cách thân thương, độc đáo mà không gò ép, không khiến người Việt Nam có cảm giác bỡ ngỡ như trước một loại hình nghệ thuật xa lạ của phương tây.
Hữu Ngọc – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999

Đôi điều băn khoăn về hình tượng người lính trên sân khấu – Phần 2

Tương tự, sự quan liêu đến vô tình của đạo diễn và diễn viên nhiều khi đã tạo ra một phong cách diễn xuất nửa chừng, diễn viên không vào vai nổi, áp đặt lối sinh hoạt hiện nay cho mấy chục năm trước. Về mặt tư tưởng mới thật đáng lo ngại hơn. Cuộc tọa đàm về hình tượng người lính ở Hà Nội đã nhận xét: hiện nay cả văn học và điện ảnh đều đi vào mô – tip đặt người lính vào sự mất mát. Sân khấu mủi lòng quá sớm với những sự mất mát. Mà không chỉ trên sân khấu, trong văn nghệ cũng đang xuất hiện khuynh hướng ủy mị, dằn vặt hóa.
Đó là hiện tượng đối lập một phần hoặc thậm chí hoàn toàn với bản chất của bộ đội ta trong thời kỳ kháng chiến, tùy vào những trường hợp nhân vật và vở diễn cụ thể . Đối với loại hiện tượng đó, sân khấu đang mất đi rất nhiều anh hùng ca mà  hầu như lại chỉ vương vấn tính bi kịch. Phải, sân khấu đã mủi lòng quá sớm trước những mất mát – một sự mủi lòng không cần thiết trong khi lại góp phần làm hình tượng anh hùng của người lính bị tha hóa phần nào, trở nên đau đớn, ủy mị, chua chát, mất tinh thần chiến đấu. Loại vai diễn tái hiện người lính trong chiến tranh như vậy đã không phù hợp với thực tiễn lịch sử kháng chiến và lôgic nghệ thuật chân chính. Đối với hình tượng người lính sau chiến tranh, sự mất mát đau thương cũng bị một số vở diễn đẩy lên quá đà, và khi đó sân khấu không còn là hiện thực phê phán nữa mà đã bi đát hóa hiện thực, lấy một số trường hợp cá biệt để khái quát hóa thành hiện tượng chung về đời sống cơ cực của người lính. Đó là sự sai lầm rất cơ bản về nhân sinh quan và phương pháp luận nghệ thuật. Người lính trong chiến tranh cũng như sau chiến tranh vẫn là sự thể hiện của một quân đội với ý thức hệ vô sản, vẫn là rường cột để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Những hiện tượng tiêu cực trong quân đội là có thực nhưng không đến mức phổ biến để nghệ thuật sân khấu có thể quy nạp từ cái riêng thành cái chung, thúc đẩy cho những cái nhìn tai hại của một bộ phận trong những thế hệ sau này đối với con người của cha ông họ. Không, sân khấu nước ta không thể và không có quyền đối xử như vậy đối với hình tượng người lính, ngược lại sân khấu luôn phải gìn giữ truyền thống vô cùng quý giá của người lính quá khứ và phải đấu tranh trên tinh thần xây dựng đối với người lính hiện tại. Đó cũng là vấn đề rất cần được sự quan tâm chỉ đạo đúng hướng của các cơ quan tư tưởng của Đảng và nhà nước ta.
Phạm Chí Dũng – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999

Đôi điều băn khoăn về hình tượng người lính trên sân khấu – Phần 1

Đã từ lâu người lính trở thành một hình tượng nghệ thuật có tính lịch sử nổi bật trên sân khấu nước ta, đặc trưng cho tinh thần đấu tranh ngoan cường anh dũng chống giặc ngoại xâm của quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, sân khấu ta đã nở rộ vẻ đa dạng, phong phú và đầy tính khích lệ của hàng loạt vở diễn mà trong đó không chỉ đáp ứng yêu cầu chính trị mà còn thỏa mãn về chất lượng nghệ thuật. Đó là điều đáng tự hào của chúng ta và góp phần đáng kể tạo ra một sân khấu riêng cho sân khấu Việt Nam trong nền sân khấu thế giới.
Tuy vậy, hình tượng ấy của người lính trên sân khấu càng về sau này càng mờ nhạt. Trong một cuộc tọa đàm vào cuối năm 1998 tại Hà Nội về vấn đề này, tác giả Hà Đình Cẩn vốn đã nhiều năm sống và trăn trở với đề tài người lính, đã phải thốt lên “Người lính không phải thế, ngồi xem tức lắm,bực lắm!”. Nhưng cũng chỉ có một số vở diễn mang đề tài người lính thì mới có câu tán thán đó, chứ với tình trạng bỏ bê dạng đề tài này như hiện nay thì có lẽ những người tâm huyết cũng chẳng thốt lên được lời nào nữa. Quả thật, tâm lý ngại viết và dàn dựng đề tài cách mạng, trong đó có hình tượng người lính, đang dần phổ biến, thậm chí phổ biến một cách công khai ở một số đoàn nghệ thuật. Nguyên nhân lớn nhất của loại tâm lý đó là xu hướng lao theo các vở diễn theo phong cách thị trường, chỉ đáp ứng một thị hiếu bình thường mà không nâng cao được những giá trị thẩm mỹ cũng như giáo dục. Ngoài ra, cũng cần phải phân tích một nguyên nhân nữa là “sự mặc cảm”, “xấu hổ” của một số người khi đề cập đến đề tài cách mạng, mà đây là một phần hậu quả của việc thiếu quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục tư tưởng cho cán bộ Đảng viên của Đảng và nhà nước ta trong thời gian khoảng 10 năm gần đây, đặc biệt trong hoàn cảnh những mặt trái của kinh tế thị trường và văn hóa phương tây đang xâm thực mạnh mẽ vào các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta.
Trong khi đó, một số vở diễn đề cập đến đề tài chiến tranh, cách mạng và hình tượng người lính thì lại… cứ thế nào ấy. Về diễn xuất và hóa trang, nhân vật người lính được thể hiện một cách gượng gạo, đôi khi quá kích, cũng như vẻ béo tốt, mập mạp cả người bộ đội đã làm cho không ít khán giả ngạc nhiên về sự sung túc của thời chiến. Cần nói rõ hơn, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ gian khổ làm sao người lính lúc nào cũng quân phục tươm tất mới tinh, mà đôi khi quân phục lại là những bộ quần áo thanh niên xung phong giai đoạn sau năm 1975, hoặc thật hiếm có người lính nào lại để mái tóc dài óng mượt đến gần bờ vai.
Phạm Chí Dũng – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999

Thận trọng với năng lượng nguyên tử trong cân bằng năng lượng quốc gia – Phần 2

Thêm vào hàng loạt may rủi, còn có những rủi ro do chủ nghĩa khủng bố mà các trung tâm nhiệt hạch là món mồi bổ nhất do đó phải bảo vệ chúng như những thành trì.
ở đây tác giả chưa nói đến những nguy hiểm cho nhà máy điện nguyên tử do động đất và chiến tranh có thể gây nên. Các tên lửa của Mỹ và Nato đã rơi không cách xa  Nhà máy điện Côn-lô-đui của Bun-ga-ri bao nhiêu trong chiến tranh Côsôvô.
René Dumond cho biết… “Tiền đầu tư cho 1Kw nhiệt hạch khoảng 200 đôla vào đầu những năm 1970, đến năm 1980 thì lên đến 1900 đôla; nó sẽ là 3.500 đôla cho 14 lò phản ứng xây dựng năm 1987. Sự tăng vọt chóng mặt này là do những quy tắc về an toàn”.
Như vậy, xu hướng chung của thế giới là thoái trào của điện nguyên tử, đúng như Herri Peyret, viết trước đây 25 năm trong cuốn “Cuộc chiến đấu vì năng lượng”… “ Năng lượng nguyên tử vừa hấp dấn vừa làm khiếp sợ” Có lẽ là làm khiếp sợ cả về mức độ nguy hiểm và về giá cả đắt dễ sợ!
Khuynh hướng thế giới hiện nay ngả về hướng xây dựng các nhà máy điện sử dụng khí đốt. Tiến bộ kỹ thuật cho phép xây dựng các nhà máy điện khí, với nhiệt độ khí lên đến 1.300oC. Tiến bộ của khí động học sẽ giải quyết vấn đề này. Ngoài ra, khi thoát ra còn rất nóng sẽ dùng để sản xuất hơi nước. Đến lượt hơi nước lại được dùng để sản xuất điện. Như vậy, hiệu suất tổng của cả hệ thống khí hơi nước sẽ đạt 50%, một con số gây ấn tượng, và có thể lên tới 60%.
Ở đây, ta cũng không bỏ qua một nhận xét là số lượng tua-bin khi được xây dựng trên thế giới đã tăng gấp 3 lần  từ năm 1990 đến năm 1993.
Ở Việt Nam theo dự báo, đến năm 2020 , sẽ sản xuất mỗi năm 15 tỷ m3/năm khí đốt mà khí đốt sản xuất ra CO2 ít hơn dầu lửa 1/3 lần và than ½ lần.
Có nhiều nhà khoa học và công nghiệp cho rằng năng lượng khí đốt là năng lượng chuyển tiếp từ năng lượng dầu mỏ sang năng lượng nhiệt hạch, tức là năng lượng tổng hợp các hạt nhân nhẹ, trái với năng lượng nguyên tử là năng lượng phân rã của hạt nhân nặng u-ra-ni.
Muốn sử dụng năng lượng nhiệt hạch, phải giải quyết vấn đề “Điều khiển phản ứng nhiệt hạch”. Sau đó những nhà máy nhiệt hạch thí nghiệm sẽ xuất hiện và năng lượng nhiệt hạch sẽ phát triển mạnh mẽ. ở đây hy vọng những năm tới sẽ có những tiến bộ bất ngờ.
Ngoài ra, ta cần chú ý điều sau đây: Thiên niên kỷ mới là thiên niên kỷ của một nền văn minh mới. ta không thể sử dụng năng lượng như chúng ta đã sử dụng trong thời đại công nghiệp vì ta đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa! Ta vừa phát triển kinh tế tốt, bền vững, vừa phải tiết kiệm năng lượng và phải đưa nhanh vào kinh tế những công nghệ hiện đại có hiệu quả cao lại sử dụng ít năng lượng.
Cuối cùng , vấn đề xây dựng nhà máy điện hạt nhân nguyên tử là vấn đề lớn về nhiều mặt cần cân nhắc thận trọng.
Tiến sĩ Nguyễn Bình –  Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –  Số 67(879) – Năm 1999

Sự cần thiết phải có một – Chính sách quốc gia về kiểm soát thuốc lá – Phần 2

Dự báo với mức tiêu thụ thuốc như hiện nay tại Việt Nam (bình quân 600 điếu/ người/ năm), thì có khoảng trên 7 triệu người (10% dân số) đang sống hôm nay sẽ chết sớm do các bệnh có liên quan đến thuốc lá. Một nửa trong số đó sẽ chết ở độ tuổi 35 – 69 và 5,5 triệu trẻ em ở độ tuổi 15 sẽ bị chết sớm vì các căn bệnh do hút thuốc lá gây ra (theo báo cáo khảo sát của viện xã hội học năm 1995).
Để kiểm soát thuốc lá, nhà nước đã ban hành luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989. Điều lệ vệ sinh ban hành kèm theo nghị định số 23/ HĐBT ngày 24/1/1991 của hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) đã cụ thể hóa việc cấm hút thuốc lá quy định trong luật bảo vệ sức khỏe nhân dân: “Cấm hút thuốc trong nhà trẻ, bệnh viện, phòng họp, trong các rạp chiếu bóng, rạp hát, trên tàu xe, máy bay và những nơi tập trung đông người trong không gian hạn chế và có một số chỉ thị, quyết định nhằm hạn chế tác hại của thuốc lá, tuy nhiên những quy định trên chưa được chuyển khai thường xuyên, đồng bộ và chưa được định hướng bởi một chính sách quốc gia do đó hiệu quả còn thấp.
Hiện nay ngành sản xuất thuốc lá có 28 cơ sở sản xuất thuốc lá điếu, trong đó thuộc trung ương quản lý có 5 cơ sở, thuộc địa phương quản lý có 12 cơ sở, thuộc các đoàn thể quản lý có 6 cơ sở, thuộc các ngành quản lý có 2 cơ sở, thuộc liên doanh có 2 cơ sở công ty cổ phần thương mại có 1 cơ sở. Hầu hết các cơ sở nhỏ thuộc địa phương hoạt động chưa có hiệu quả, thua lỗ kéo dài, sản phẩm không đăng ký nhãn hiệu và chất lượng hàng hóa.
Việc nhái nhãn mác của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khá phổ biến. Việc mua bán các sản phẩm thuốc lá trên thị trường chưa được quản lý chặt chẽ. Thuốc lá ngoại nhập vẫn tràn ngập thị trường (trung bình trên dưới 200 triệu bao một năm). Việc cấm quảng cáo các sản phẩm thuốc lá tuy đã ban hành, nhưng các công ty thuốc lá đã đối phó bằng nhiều hình thức tinh vi hơn, như dùng các màu sắc, hình ảnh đặc trưng của các hãng thuốc lá vẽ tại các quán bar, trên các xe đẩy, ô dù, mũ, áo phông… phân phát rộng rãi cho mọi người để quảng cáo. Các công ty thuốc lá còn tài trợ một số hoạt động văn hóa, thể thao…
Cùng với xu hướng chung trên thế giới và để ngăn chặn kịp thời những tác hại do thuốc lá gây ra, Việt Nam cần phải có một chính sách quốc gia về kiểm soát thuốc lá, đây cũng chính là cơ sở cho các bộ, ngành thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong việc kiểm soát thuốc lá, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân.
Trần Thu Thủy – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999

Thận trọng với năng lượng nguyên tử trong cân bằng năng lượng quốc gia – Phần 1

 Cách đây 45 năm, ngày 27/6/1954, Liên Xô cũ đã xây dựng thành công Nhà náy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới tại Ốp-nhin-Xcơ, một thị trấn nhỏ cách thủ đô Mat-xcơ-va khoảng 100killômét. Nhà máy này chỉ có công suất bằng 500k, nhưng đã gây một tiếng vang lớn cho một thời đại sử dụng nguyên tử vào mục đích hòa bình.
 Từ đó đến đầu năm 1979, sau Liên Xô Cũ, Mỹ và các nước  u Châu thi nhau xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và có thể nói từ 1960 trở đi là thời kỳ hoàng kim của điện nguyên tử, riêng nước Mỹ  có hơn một trăm lò phản ứng phát điện, chiếm hơn một phần ba sản lượng điện nguyên tử trên thế giới.
4 giờ ngày 28/3/1979,cả nước Mỹ bàng hoàng được tin một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại Nhà máy điện nguyên tử  Tri-mai-ai-len gần thành phố Harixbớc, thủ phủ bang Pen-xinva-ni-a, cách Nữu- ước không xa. Tai nạn này dánh dấu chấm hết thời kỳ hoàng kim đó.
Bảy năm sau, con rồng nguyên tử lại nối một cơn giận lôi đình hồi 1 giờ 43 phút ngày 26/4/1986 tại Tréc-nô-bưn (Liên Xô cũ). Thật là rùng rợn. Vụ nổ được đánh giá là tương đương với 80 trái bom nguyên tử đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Hầu hết các nước châu  u đã ít nhiều bị ảnh hưởng, với khoảng 9 triệu người bị ảnh hưởng phóng xạ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, chưa kể hậu quả lâu dài cho người và môi sinh: đất, nước, khí quyển v.v..
Tai nạn khủng khiếp này đánh một đòn chí tử vào chính sách phát triển điện nguyên tử ở Mỹ  và Châu  u.
Từ 1987, Mỹ không xây dựng thêm một nhà náy điện nguyên tử nào nữa. Con số 109 nhà máy này của Mỹ năm 1995 dự kiến đến năm 2010 đóng cửa toàn bộ các nhà máy điện nguyên tử.Đức cũng đã tuyên bố đóng cửa toàn bộ 19 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt đông.
Riêng nước Pháp, nước quán quân, nơi mà điện nguyên tử chiếm đến 75% toàn bộ sản lượng điện toàn quốc,gần đây đã hoạch định sẽ giảm xuống còn 13% vào khoảng năm 2020, chấm dứt trường hợp đặc biệt ở châu  u.
Riêng châu Á, nơi một thời vẫy vùng các con rồng và con hổ mới, và còn vẫy vùng nữa,thì rất hăng hái xây dựng điện nguyên tử.Ở Nhật Bản, điện nguyên tử chiếm 34% toàn bộ sản lượng điện, ở Hàn Quốc tỷ lệ đó cũng là 35%.
Nhưng những sự cố nghiêm trọng đã xảy ra ở những nước này và càng ngày càng nhiều sức ép yêu cầu chấm dứt sử dụng điện nguyên tử.
Rơ-nê Đuy-mông tác giả cuốn sách nổi tiếng “Một thế giới không thể chấp nhận được”viết: “…những tính toán về chi phí của Tổng công ty điện lực Pháp xem nhẹ hai khoản quan trọng mà các thế hệ tương lai sẽ phải trả giá”.
Thật thế, khi các trung tâm, sau khoảng 30 năm, hết hạn sử dụng, ta phải chôn vùi nó để nó không phóng xạ nữa. Người ta tính rằng những việc che đậy những cái mồ, những cái quan tài ấy tốn kém hơn việc xây dựng. Khoản chi phí thứ hai là việc quản lý các chất thải phóng xạ mà người ta không thể quy định quy cách, giá cả và tính hoạt động.
Tiến sĩ Nguyễn Bình –  Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –  Số 67(879) – Năm 1999

Con gì khổ nhất?

Một tên tội phạm nọ khi chết đi bị đày xuống âm phủ. Diêm vương phán:
Tên này lúc sống, phạm nhiều tội tày trời: ăn hối lộ, tham nhũng hàng tỷ đồng, thủ tiêu nhân chứng, trù dập nhân viên, ăn chơi sa đọa… nên theo các người, ta nên cho hắn đầu thai thành con gì để hắn phải hứng chịu sự trừng phạt một cách đau đớn nhất?
Diêm vương vừa dứt lời thì các cận thần nhao nhao lên góp ý kiến:
Dạ, thần nghĩ nên để hắn đầu thai là con heo. Con heo dù có sung sướng lúc đầu, nhưng kết cuộc cũng là cái chết. Hắn sẽ bị xả thịt, phơi bày toàn bộ cơ thể trên các hàng thịt, và cuối cùng là sẽ bị “nhừ” trong bàn tay các nhà nội trợ!
Diêm vương lắc đầu:
Dù sao hắn cũng có một giai đoạn dài ăn sung mặc sướng, khỏi phải lao động gì mà được ăn dài dài! cái chết đến với hắn cũng mau chóng, không đau đớn gì!
Cho hắn làm kiếp chó đi! không có gì khổ hơn làm một con chó!
Diêm vương cười:
Gần đây, ta còn thấy trên báo một loài chó ngồi salon xem tivi trên quảng cáo mà! thời nay, có nhiều con chó được ở vila, được ngồi xe hơi, xem tivi, được tắm xà bông “dành cho các ngôi sao”, được ăn mỗi ngày nửa ký thịt bò! Kiếp chó mà khổ nhất nỗi gì!
Xin Diêm Vương cho hắn đầu thai làm con … đường!
Cái gì? con đường?
Dạ, không có kiếp nào khổ bằng kiếp con đường đâu. Thần đã chứng kiến, một con đường từ khi được hình thành đã phải chịu khổ như thế nào. Lúc còn mới, sạch đẹp, người ta đi, chạy xe lên nó. Nó phải oằn mình dưới hàng triệu lượt người, lượt xe mỗi ngày. Có xe chở trên trọng tải cho phép, làm con đường ‘trầy vi tróc vảy”, xi măng, cát, gạch… bị bới tung lên, nát vụn. Thế rồi người ta sửa chữa nó. Rồi không đủ chất lượng. Con đường chứa đầy hầm hố, ổ gà, ổ vịt, ổ voi. Sau khi được phản ánh, con đường sẽ được làm lại. Một thời gian ngắn sau, nó lại bị đào lên để sửa chữa ống nước, đặt cáp điện thoại… Và cứ thế, nó cứ phải bị đào lên, bới xuống rất nhiều lần. Ngoài ra, hàng ngày nó còn phải hứng biết bao thứ rác rưởi từ chuột chết, đồ ăn thừa đến những thứ người ta khạc nhổ. Sáng sáng, nó còn là nơi “đi vệ sinh” của biết bao chú chó!…
Diêm Vương mừng rỡ:
Đúng rồi! không có gì khổ hơn thế! Hình phạt này sẽ kéo dài không bao giờ dứt đối với tên này!
Vi Thịnh Đạt – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – số 21(834) – Năm 1999

Có những gì trong tour mũi né giá rẻ

Có lẽ mọi người vẫn biết đến Phan thiết như một địa danh du lịch gắn liền với biển và các món ăn đặc sản vùng biển đặc biệt là món nước mắm thơm ngon. Tuy nhiên trong thời điểm vài năm trở lại đây, điểm du lịch này lại nổi bật vì nhiều lí do khác nữa và hiện nay, đến với Phan Thiết khách du lịch đã được trải nghiệm điểm du lịch đầy tính hiện đại. Nếu bạn có nhu cầu tới thăm Mũi né, Phan thiết thì đừng bỏ qua bài viết về tour mũi né giá rẻ dưới đây của chúng tôi.
Thời gian tham quan
Với các tour du lịch thì thời gian cho toàn bộ tour có lẽ là điều mà bạn cần quan tâm vì nó còn liên hệ với nhiều yếu tố khác nữa. Để thăm trọn vẹn Mũi né, Phan thiết thì có lẽ cần tốn khá nhiều thời gian nhưng với tour du lịch mũi né giá rẻ, bạn sẽ được trải nghiệm Mũi né chỉ trong hai ngày hoặc ba ngày tùy từng đơn vị tổ chức. Tuy thời gian tương đối ngắn ngủi nhưng do đã sắp xếp lịch trình trước đồng thời cũng có kế hoạch cụ thể nhắm vào những điểm du lịch quan trọng nên bạn không cần lo lắng về việc có đi được hết thăm được hết hay không.
Phương tiện di chuyển
Thông thường khi đi du lịch theo tour thì tất cả mọi người sẽ di chuyển cùng nhau trên một phương tiện tùy vào các yếu tố khác nhau và tour mũi né giá rẻ cũng tương tự như vậy. Nếu xuất phát từ thành phố Hồ chí minh thì bạn có thể sử dụng ngay ô tô nhưng nếu chưa xuất phát từ điểm này thì bạn cần phải sử dụng các phương tiện khác để đến với thành phố này trước đã. Nếu vì mục tiêu tiết kiệm tiền thì bạn hoàn toàn có thể lựa chọn các phương tiện tốn thời gian hơn một chút còn nếu có khả năng hãy book vé máy bay giá rẻ nhé.
Lịch trình cơ bản
Khách du lịch sẽ được trải nghiệm Mũi né bằng nhiều hoạt động khác nhau. Đầu tiên đó phải là thăm thú các điểm du lịch như tháp Chàm Pôshnư, lầu Ồng Hoàng hay bãi đá ông địa…. Ngoài ra, các hoạt động vui chơi do đoàn tổ chức cũng được thực hiện trong suốt quá trình tham quan. Điều quan trọng đó là bạn sẽ được thưởng thức các món ăn đặc sản, hương vị biển thông qua các món ăn từ biển. một số đoàn còn tổ chức các chương trình sân khấu hoặc chương trình đốt lửa trại để giao lưu với người dân nơi đây. Điều này còn tùy vào từng tour mà bạn lựa chọn. Chi phí cho tour như thế này không quá lớn nên nếu có khả năng hãy thưởng thức đi nhé.