Hoa chông vàng

Ai đã qua vùng Đồng Tháp Mười, đều được nghe kể về kinh nghiệm chữa rắn độc cắn của đồng bào địa phương bằng một cây thuốc rất độc đáo. Chính kinh nghiệm lâu đời này do bác sĩ Trần Văn Dược (dân quen gọi là ông Tư Dược) truyền lai. Nhiều người bị rắn độc cắn đã được ông chữa khỏi. Không những có kinh nghiệm chữa mà ông còn chẩn đoán chính xác tình trạng bị độc bằng cách xem chân tóc. Nếu chân tóc ở da đầu còn trắng là còn chữa được, ngược lại chân tóc đã xám đen thì nguy hiểm khó cứu chữa. Trại nuôi rắn Đồng Tâm ở tỉnh Tiền Giang (nơi thử nghiệm đầu tiên) đã trồng nhiều cây thuốc quý này để cung cấp dược liệu tươi cho nhân dân quanh vùng và phát giống cho các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Cây thuốc độc đáo đó là cây hoa chông vàng (tên khác là kim vàng, gai kim bóng, trâm vàng, sơn đông). Đó là một cây bụi nhỏ, sum sê, cao khoảng 1 mét. Thân phận cành từ gốc, có nhiều gai nhọn, vỏ ngoài nhẵn màu nâu. Là mọc đối có cuống ngắn, dài 6 – 9cm, rộng 1 – 1,5cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mặt trên sẫm bóng, gân giữa nổi rõ màu vàng nhạt, lá kèm biến đổi thành gai thẳng, cứng nhọn, dài 1 – 2cm. Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành bông, gồm 18 – 20 hoa màu vàng tươi, kèm theo những lá bắc to xếp lợp; đài hoa gồm những thùy nhọn như gai: tràng hoa hợp thành ống hẹp, chia hai môi, môi trên có 4 canh rộng, tròn gần bằng nhau, môi dưới có 1 cánh hẹp; nhị 2. Quả nang chứa hai hạt dẹp, có vỏ ngoài cứng rắn. Mùa hoa quả vào tháng 10 – 12.
Hoa chông vàng có nguồn gốc ở các đảo Morise, Madagascar, được nhập trồng từ lâu đời để làm cảnh, nay đã trở thành cây mọc tự nhiên ở bờ bãi, ven đường, gò đống, nơi có nhiều cây bụi, phân bố ở các tỉnh phía nam. Cây còn được trồng làm hàng rào vì cành lá mọc khỏe, phát triển nhanh, dễ kén chặt vào nhau, khó xuyên qua. Trồng bằng hạt hoặc cành giâm.
Lá hoa chông vàng có vị đắng, tính mát; hoa có vị ngọt, thơm, không độc, có tác dụng giải độc, tiêu máu ứ. Cách chữa rắn độc cắn cụ thể như sau: Lấy lá tươi (10 – 20 gam) rửa sạch, giã nát với phèn chua (2 – 3 gam), thêm nước, gạn uống, bà đắp. Ngày làm 2 – 3 lần. Nếu người bị nạn cắn chặt răng, không tự uống được thì cậy miệng ra để đổ thuốc vào. Dùng vài ngày là khỏi.
Bệnh viện y học dân tộc tỉnh Đắc Lắc lại pha chế rượu chữa rắn độc cắn gồm lá hoa chông màu vàng, bột cây sóng rắn và phèn chua, trong uống, ngoài đắp. Thuốc đã cứu chữa thành công 50 trường hợp, trong đó có trường hợp bị nặng, toàn thân phù nề, xuất huyết nội tạng.
Nhân dân ở một số nơi còn dùng cây hoa chông vàng làm thuốc tiêu đờm, giảm đau, chữa ho, sốt ở trẻ, viêm họng, tê thấp, kiết lỵ (sắc uống), mụn nhọt, sưng tẩy (giã đắp).
Tại sao nước oxy già mất tác dụng sát khuẩn
Nước oxy già khác nước thường như thế nào? Tại sao nước oxy già khi để lâu thì không thấy có tác dụng như lúc mới mua vé?
Nguyễn Tuấn Anh (học sinh)
Nước oxy già được dùng trong y tế để làm thuốc sát khuẩn, tẩy uế. Nó chính là dung dịch hydroperoxyt trong nước có công thức là H2O2. Loại nước oxy già thường bán ở các hiệu thuốc có nồng độ 3%. Thường thì, các công ty dược mua nước oxy già đậm đặc có nồng độ 30% ở nơi sản xuất về pha loãng ra để đóng lẻ bán tại các hiệu thuốc. Nước oxy già không bền vì H2O2 phân hủy giải phóng oxy. Do đó nế mua về để lâu không dùng mà lại không đậy kỹ thì nó sẽ trở thành nước thường H2O. Vì vậy các nhà sản xuất phải bảo quản nước oxy già trong bình sành hoặc chai thủy tinh sẫm màu, chai nhựa nút kín, để chỗ mát, tránh ánh sáng, tránh va đập mạnh… vì đó là những xúc tác để phản ứng oxy hóa xảy ra.
Nước oxy già có tác dụng sát khuẩn chính là nhờ phản ứng phân hủy giải phóng oxy. Chính sự giải phóng ra oxy mà nó làm oxy hóa các hệ enzym trong nguyên sinh chất của vi khuẩn. Ngoài ra do tạo được nồng độ oxy cao, nó kìm hãm các vi khuẩn yếu khi. Oxy giải phóng ra còn có tác dụng cơ học là quét máu mủ đọng trong các vết thương ra ngoài, giúp cho việc gỡ băng gạc, rửa vết thương dễ hơn.
Nước oxy già chỉ dùng ngoài để sát khuẩn tai, răng – miệng, sút miệng khi tưa lưỡi, băng rửa vết thương, làm trăng răng trong nha khoa.
DS. Lê Quốc Thịnh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Những tín hiệu sáng

Theo một báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy (UBQGPCMT) thì trong 8 tháng đầu năm 1998, các cơ quan chức năng đã điều tra 5347 vụ, với 11.075 đối tượng phạm tội ma túy, thu giữ 34,94 kg heroin; 588,2 kg thuốc phiện, 39.470 liều hút heroin, thuốc phiện, cần sa. Cũng trong thời gian này Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử 2807 vụ với 4306 bị cáo, tuyên phạt 29 tử hình và 17 án chung thân dành cho bọn tội phạm.
Những con số kể trên cho thấy thực trạng phạm tội ma túy ở nước ta diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy được sự nỗ lực của toàn xã hội trong việc phòng chống ma túy. Đứng trước tình hình ma túy ở Việt Nam diễn biến phức tạp, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh kiên quyết. Ngày 29 – 1 – 1993 Chính phủ ban hành Nghị quyết 06/CP về phòng chống và kiểm soát ma túy với 6 nhiệm vụ cơ bản. Song thực tế cho thấy tình hình hoạt động của bọn tội phạm ma túy vẫn rất nghiêm trọng, mang tính quốc tế, tệ nghiện ma túy có xu hướng gia tăng. Sau 5 năm thực hiện nghị quyết 06/CP chúng ta đã đạt được kết quả quan trọng là xóa được hơn 70% diện tích cây thuốc phiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, các mặt công tác khác chưa được coi trọng đúng mức: công tác tuyên truyền giáo dục phòng chống ma túy chưa sâu; công tác kiểm soát ma túy còn sơ hở; đã xuất hiện các cơ sở sản xuất heroin sát với biên giới nước ta, nguồn ma túy từ nước ngoài đưa vào Việt Nam có xu hướng tăng lên. Ta lại chưa có lực lượng chống ma túy chuyên tách, chưa có sự chỉ đạo chỉ huy thống nhất nên các hoạt động phòng chống ma túy thiếu đồng bộ, kém hiệu lực; công tác hợp tác quốc tế về phòng chống ma túy chưa được phát huy; công tác cai nghiện ma túy ít hiệu quả, tỷ lệ tái nghiện rất cao, có địa phương lên tới 80 – 90%.
Xét tính cấp bách của công tác phòng chống ma túy ở Việt Nam, ngày 25 – 8 – 1997 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 686/TTg thành lập Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy thay thế Ban chủ nhiệm Chương trình quốc gia 06 để tiếp tục lãnh đạo, điều hành công tác phòng chống và kiểm soát ma túy trong tình hình tới. Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy gồm 14 bộ, ngành thành viên và do một phó thủ tướng làm chủ tịch.
Sau một năm thực hiện Quyết định 686/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban quốc gia phòng chống ma túy, công tác phòng chống ma túy đã được cán bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo và đạt được những chuyển biến tích cực.
Công tác cai nghiện và tạo việc làm sau cai đã làm được nhiều việc. Xuất hiện nhiều mô hình cai nghiện có hiệu quả của Thành phố Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác, góp phần kiềm chế sự gia tăng của tệ nạn nghiện ma túy. Việc thực hiện kế hoạch liên ngành 1413/LN ngày 15 – 10 – 1996 “Về phối hợp liên ngành phòng ngừa và đấu tranh chống nghiện ma túy trong học sinh viên và thanh thiếu niên” giữa Bộ nội vụ (nay là Bộ công an), Bộ lao động thương binh và xã hội, Bộ giáo dục – đào tạo, Bộ y tế, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã ngăn chặn được sự gia tăng và xâm nhập của ma túy vào trong các nhà trường.
Bộ y tế chỉ đạo ngành y tế và Ủy ban nhân dân các địa phương củng cố tổ chức và thực hiện nghiêm quy chế hoạt động của các cơ quan quản lý các loại thuốc có chứa chất ma túy và tiền chất được sử dụng hợp pháp cho mục đích y học, nghiên cứu khoa học; phối hợp với Bộ công an xây dựng quy chế quản lý và tăng cường trách nhiệm của cơ quan y tế trong kiểm soát các chất độc nghiện. Thực hiện có hiệu quả Dự án về quản lý tiền chất ở Việt Nam. Bên cạnh đó Bộ y tế chủ trì nghiên cứu và điều chế các bài thuốc có tác dụng cai nghiện ma túy cao. Tổ chức đánh giá những bài thuốc cai nghiện ma túy cao. Tổ chức đánh giá những bài thuốc cai nghiện ma túy hiện nay đang nghiên cứu như HEANTOS, CEDEMEC, cai nghiện bằng châm cứu,… để tìm ra những bài thuốc cai nghiện ma túy hữu hiệu nhất. Nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh cho những người cai nghiện ma túy tại cơ sở chữa bệnh và tại cộng đồng.
Ngoài thuốc cai nghiện HUFUSA đã được đưa vào sản xuất và ứng dụng trong việc điều trị cắt cơn nghiện, tới đây sẽ còn nhiều bài thuốc sẽ được Bộ y tế cho phép sản xuất, lưu hành.
Những tín hiệu sáng về môi trường lại không xa về một xã hội không có ma túy, đó cũng chính là nội dung mà Hội nghị toàn quốc triển khai phòng chống ma túy giai đoạn 1998 – 2000 vừa tổ chức ngày 19 – 20/10/1998 tại Hà Nội.
Khải Hưng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Người Indonesia gốc Hoa

Tạp chí Asia Week trích dẫn tài liệu của “Hội các tỷ phú châu Á” cho thấy: trong 15 gia đình giàu nhất Indonesia (tính đến 5 – 1998, chỉ chỉ có gia đình tổng thống Suharto – đứng thứ 2 – và 2 gia đình đứng thứ 14 và 15 là người Indonesia; 12 gi đình tỷ phú khác đều là người gốc Hoa.
Wonwidjo tài sản ước tính 7,7 tỷ USD; Suharto 6,3 tỷ USD; Kiem 4,5 tỷ USD; Widjaja 3,7 tỷ USD; Putera 2,3 tỷ USD; Prajogo 2,0 tỷ USD; Sutanto 1,8 tỷ USD; Nursalim 1,3 tỷ USD; Hasan 1,2 tỷ USD; Tonoto 1,0 tỷ USD; Riady, Soerya, Djojo và Gunawan đều ước tính: 1,0 tỷ USD.
Một tháng sau sự kiện ngày 15.5.1998 buộc Suharto từ chức, Tổng thống Habibie kêu gọi các công dân Indonesia gốc Hoa hãy trở về xây dựng quê hương. Hàng chục vạn gia đình người Hoa đã di tản sang Malaysia và Singapore mang theo 80 tỷ USD.
Do khủng hoảng kinh tế, sự giàu có của người gốc Hoa trở thành đối tượng khiêu khích của những vụ cướp bóc kỳ thị (xảy ra suốt từ đầu năm đến đỉnh cao là các ngày từ 12 – 15.5.1998 làm đơn 1000 người thiệt mạng trong đó phần lớn là người gốc Hoa).
Thời kỳ Indonesia còn bị thực dân Hà Lan thống trị dân bản địa (phần lớn làm trong các trang trại) rất nghèo, người Hoa sống bằng buôn bán nên sung túc hơn.
Năm 1965 từng đã có cuộc tàn sát kỳ thị người Indonesia gốc Hoa và mới đây.
Lãnh tụ một tổ chức Hồi giáo cấp tiến ở Indonesia cũng bày tỏ thái độ trước sự ngược đãi người Hoa:
Chúng ta phải tôn trọng thành quả kinh tế của người Hoa. Chúng ta thẳng thắn nói với họ: tương lai phải có phân phối của cải công bằng hơn. Theo tôi 95% người Indonesia gốc Hoa cũng yêu tổ quốc Indonesia như tôi và bạn. Một thiểu số nhỏ mới mang lòng tham vô đáy!
Laikuanfook – thư kỳ điều hành tổ chức người Malaysia gốc Hoa phàn nàn:
Những người gốc Hoa ở Indonesia bị buộc phải từ bỏ ngôn ngữ, tên tuổi Hoa. Nay bị cướp phá thậm chí giết hại… thì không công bằng…
Giáo sư K. Tchapreera ĐH Thamasat Thái Lan nhận xét:
Phải thay đổi nhận thức về vấn đề dân tộc ở Indonesia. Người bản xứ Indonesia xem mấy đời gốc Hoa như người nước khác. Ngài Suharto phải có trách nhiệm về việc tồn tại và phát triển nhận thức kỳ thị này!
Người Indonesia gốc Hoa có vai trò nhất định trong việc phục hồi nền kinh tế Indonesia. Người gốc Hoa hãy hội nhập nhiều hơn nữa vào cộng đồng các dân tộc Indonesia trong khi giữ bản sắc văn hóa cổ hữu của mình.
Ngài tân Tổng thống Habibie của Indonesia gợi ý phá cái thế âm thầm làm giàu của người Hoa trong khi họ chấp nhận không có những tiếng nói chính trị trong cộng đồng.
Thay đổi tên thuốc
Căn cứ vào công văn số 216 VKN/KH ngày 16/9/1998 của Viện kiểm nghiệm gửi kèm phiếu kiểm nghiệm số 46 ngày 15/9/1998 về thuốc viên nên penicilin V 400.000 UI, SKS 051297 – HD: Dec 99 – SĐK. VNA – 0376 – 96 do Mebiphar sản xuất, mẫu do Trung tâm kiểm định dược phẩm Đà Nẵng lấy tại khoa dược Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng. Thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về hàm lượng. Cục quản lý dược đã có công văn số 2917/QLD đình chỉ lưu hành trên toàn quốc lô thuốc trên; yêu cầu Xí nghiệp dược phẩm và sinh học y tế thành phố Hồ Chí Minh (Mebiphar) phải khẩn trương tiến hành thu hồi thuốc không đạt tiêu chuẩn lượng này, gửi báo cáo, hồ sơ thu hồi thuốc về Cục quản lý dược Việt Nam, Thanh tra Bộ y tế trước ngày 25/10/1998.
Để thống nhất trong công tác quản lý thuốc, Cục quản lý dược Việt Nam thông báo về việc thay đổi tên thuốc như sau:
Bộ y tế khuyến khích các đơn vị đổi tên thuốc từ tên thương mại thành tên generic và không giải quyết các trường hợp đổi tên thuốc từ generic thành tên thương mại.
Các trường hợp đổi tên thuốc từ tên thương mại này thành tên thương mại khác chỉ được xem xét, giải quyết khi có khiếu nại vi phạm sở hữu công nghiệp về tên thuốc. Tên thương mại xin thay đổi phải đáp ứng yêu cầu quy định trong quy chế nhãn và nhãn hiệu hàng hóa của thuốc, quy chế đăng ký thuốc của Bộ y tế và không vi phạm sở hữu công nghiệp. Sau khi tra cứu tại Cục sở hữu công nghiệp đơn vị nên tiến hành đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu công nghiệp. Nếu đơn vị không đăng ký bảo hộ, sau đó thuốc có vi phạm về sở hữu công nghiệp thì đơn vị hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sau tên thuốc không được sử dụng các từ nước ngoài có nghĩa như Forte, plus… Các trường hợp đổi tên thuốc từ tên thương mại này thành tên thương mại khác được xem xét, giải quyết theo quy trình xét duyệt của Hội đồng xét duyệt thuốc Bộ y tế.
TH – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

HIV lây truyền chủ yếu theo những đường nào, và tránh như thế nào

Đại đa số người nhiễm HIV bị nhiễm qua một trong hai con đường: tình dục và dùng chung bơm kim tiêm. Ngoài ra phụ nữ nhiễm HIV có thể sinh con bị nhiễm, và người bị truyền máu nhiễm vi rút cũng bị lây nhiễm.
Tình dục
Tại sao HIV lây truyền qua con đường tình dục?
Trong giao hợp thông thường, dương vật của người nam và âm đạo người nữ tiếp xúc với các dịch sinh dục của nhau. Nếu người nam mang HIV, thì HIV có thể đi qua lớp niêm mạc âm đạo người nữ (da mỏng ở bên trong che phủ bề mặt âm đạo) vào những mạch máu nhỏ li ti có rất nhiều dưới lớp niêm mạc, khiến người nữ bị nhiễm. Nếu người nữ mang HIV thì HIV có thể truyền sang người nam qua niêm mạc ở lỗ dương vật hoặc qua lớp da bao phủ đầu dương vật ở phía ngoài. Lớp da này mỏng nên trong khi giao hợp dễ bị những vết xước rất nhỏ không nhận thấy, tạo điều kiện cho HIV xâm nhập.
Còn các kiểu tình dục hiếm hơn thì sao?
Khi giao hợp bằng miệng (như dương vật – miệng, hay miệng – âm hộ), khả năng lây truyền HIV thấp hơn so với giao hợp thông thường. Nhưng nếu trong miệng có lở, xước, hay có chảy máu răng thì HIV có khả năng lan truyền. Vi rút HIV ở dịch sinh dục có thể xâm nhập vào vết xước ở miệng người kia. Hoặc HIV trong máu ở vết xước trong miệng có thể xâm nhập cơ thể người kia qua âm đạo hoặc dương vật. Vấn đề là nhiều khi trong miệng có những vết xước rất nhỏ mà ta không biết đến.
Giao hợp dương vật – hậu môn là hình thức giao hợp dễ làm lây HIV nhất. Đó là do hậu môn và trực tràng (ống trong hậu môn) rất dễ sây xước bởi không có chất dịch làm trơn như âm đạo, nên tạo điều kiện rất tốt cho HIV chuyển từ người này sang người khác.
“Đã quan hệ tình dục với người nhiễm HIV có đồng nghĩa với đã nhiễm không?”. Không. Không phải cứ quan hệ tình dục một lần là nhất thiết nhiễm HIV. Song khả năng đó luôn luôn có. n ái với người nhiễm HIV, có người không bị nhiễm ngay, nhưng cũng có những người bị nhiễm ngay từ lần đầu tiên. Số lần không an toàn càng cao thì khả năng truyền nhiễm càng cao.
Có ba cách tránh lây nhiễm HIV theo đường tình dục:
Không có quan hệ tình dục.
Chung thủy từ cả hai phía khi biết chắc cả hai không bị nhiễm.
Dùng bao cao su
Không quan hệ tình dục:
Không quan hệ tình dục là một phương pháp phòng tránh HIV khá hữu hiệu. Hiện nay có nhiều bạn thanh niên có quan điểm chừng nào còn chưa lập gia đình thì còn không quan hệ tình dục, và sẽ chỉ quan hệ tình dục trong hôn nhân thôi. Thực tế người ta vẫn có thể “yêu” mà không cần đến “tình dục”.
Nhưng tại sao lại không nói đây là phương pháp phòng tránh “hoàn toàn hữu hiệu” mà chỉ nói “khá hữu hiệu”? Lý do là chuyện tình dục nhiều khi xảy ra “ngoài ý muốn” hai người.
Do đó nếu bạn nghĩ mình phòng HIV bằng cách không quan hệ tình dục thì bạn phải thật quyết tâm, phải cảnh giác với chính bản thân mình và… có lẽ hay nhất là dự phòng một phương pháp khác để phòng thân trong trường hợp tình thế thay đổi. Đó chính là bao cao su.
Chung thủy từ cả hai phía khi biết chắc cả hai không bị nhiễm HIV
Chung thủy vốn là một đức tính mà người Việt Nam ta hằng coi trọng. Dù không xét đến khía cạnh đạo đức thì cũng có thể thấy rõ chung thủy là một điều mang lại nhiều ích lợi. Ở thời đại hiện nay, chung thủy không những bảo vệ sức khỏe con người. Nếu có vợ, chồng hay người yêu bạn hãy coi trọng hơn nữa việc chung thủy.
Chung thủy về tình dục góp phần tích cực ngăn chặn sự lan nhiễm HIV. Nhưng ta cũng rất cần phải nhớ:
Muốn chắc chắn tránh được HIV thì cần cả hai người chung thủy và biết chắc cả hai không nhiễm HIV. Nếu chỉ một người chung thủy thì cũng chẳng khác gì đóng kín cửa trước nhưng lại mở cửa sau, kẻ gian vẫn dễ dàng lẻn vào được.
Lẽ dĩ nhiên chỉ nên áp dụng cách chung thủy này với người không có nguy cơ nhiễm HIV khác. Nếu vợ, chồng hay người yêu của bạn có khả năng nhiễm thông qua đường dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng thì bạn rõ ràng là bị nguy hiểm đấy.
Dùng bao cao su
Bao cao su có thể coi là thần bộ vệ nếu ta dùng bao cao su và dùng đúng cách. Nó giúp ta tránh được HIV và bao nhiêu rắc rối khác, trong đó cả cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Lý do đơn giản nhất cần phải dùng bao cao su là không thể biết người khác có nhiễm HIV hay không, thậm chí người nhiễm HIIV rất có thể cũng không biết mình bị nhiễm. Có dùng bao cao su thấu đáo hay không là ở quyết định của mỗi người. Nhưng nếu bạn có quan hệ tình dục thì hãy nhớ một điều vô cùng quan trọng là: Bạn có thể đảm bỏa không lây nhiễm HIV bằng cách luôn luôn dùng bao cao su.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Chiếc đồng hồ

Chỉ vì một chiếc đồng hồ mà giờ Anh văn hôm đó lớp 12A không học. Một không khí nặng nề căng thẳng bao trùm. Mọi người nghi ngờ nhìn nhau, lo lắng nhìn nhau và hoang mang…
Ai lấy nhỉ? Sao có kẻ nào tệ hại thế nhỉ? Nếu không phát hiện ra ai lấy, nếu không có ai tự giác đứng lên nhận, nhỡ mọi người lại nghi cho mình lấy thì sao. Bọn ăn cắp thật là kinh tởm.
Một giọng phẫn nỗ vang lên:
Đề nghị khám túi từng người một. Bạn lớp trưởng đi ra ngoài 5 phút rồi vào và phát hiện ra ngay là mình bị mất đồng hồ. Cùng lúc đó cô giáo vào lớp và chưa cho một ai ra khỏi lớp. Vậy chắc chắn kẻ gian chưa thể tẩu tán được chiếc đồng hồ đi đâu cả.
Khám ư? Khám tất cả mọi người ư? Vậy là chúng ta ai cũng có thể là kẻ gian? Thật là xúc phạm quá đáng. Chiếc đồng hồ kia đáng giá bao nhiêu tiền mà nhân cách con người bị sỉ nhục đến như vậy?
Không! Không thể khám như thế được. Chiếc đồng hồ của bạn trị giá bao nhiêu tiền?
Mẹ tớ mua cho tớ hết 100 ngàn đồng.
Tớ sẽ tặng bạn số tiền ấy để mua lại chiếc đồng hồ. Còn bây giờ, đề nghị cô giáo cho lớp học bài.
Cả lớp lặng đi giây lát rồi đâu đó nổi lên một vài tiếng xì xào:
Sao lại thế nhỉ? Sao cậu ta tự dưng lại chịu mất 100 ngàn đồng nhỉ? Hay là cậu ta lấy? Cậu ta sợ mọi người khám tìm, phát hiện ra nên đành phải trả theo kiểu ấy để giữ thể diện?
Các cậu có im đi không! Thật là đáng xấu hổ… Chúng ta chẳng đã từng là bạn học của nhau suốt ba năm trời, chẳng lẽ chúng ta không hiểu nhau, không hiểu bạn mình, chẳng lẽ chúng ta không thể nghĩ tốt cho nhau, không tin tưởng và tôn trọng nhau? Tôi nghĩ rằng có một ai đó cố tình trêu trọc bạn lớp trưởng, giấu chiếc đồng hồ đi. Song vì bạn lớp trưởng hốt hoảng kêu mất cắp ngay từ đầu nên bạn đó sợ quá không dám nhận. Sao các bạn không thử tự nhìn và ngăn bàn của mình xem?
Tất cả cùng nhìn vào ngăn bàn. Cô giáo cũng nhìn vào ngăn bàn và chợt kêu lên:
Đây rồi! Nó đây rồi!
Đó là một chiếc đồng hồ sứt quai, đã cũ.
Qua phòng cấp cứu
Yêu nhau chẳng bõ…
Trong giờ giải lao của lớp 10 (X) trường Lý Thường Kiệt, Hà Nội, Trung thấy An ngồi cắn bút một mình. Tiện tay và tỏ ra thân mật, Trung búng tay vào quản bút khiến An kêu khẽ lên một tiếng. Và người “yêu quý” nhổ xuống đất máu lẫn một mảnh răng cửa bị mẻ. Chỉ vì 1 chút vô tình mà hai người bạn thân “yên nhau chẳng bõ”.
Tát giếng, chết người
Giếng cần “vệ sinh” là giếng bẩn hoặc lâu không dùng đến nên chứa nhiều khí độc. Mới đây, anh Nguyễn Văn Thanh ở xã Bình Định (Thăng Bình, Quảng Nam) sau khi tát hết nước, xuống vét bùn đã bị ngạt thở và tử vong. Anh Phương hàng xóm xuống cứu cũng bị khí độc làm chết. Các gia đình vệ sinh giếng nên biết sức lưu ý.
Đùa!
Cháu Nguyễn Thắng Son 13 tuổi được chuyển vào bệnh viện huyện Trục Ninh – Nam Định trong tình trạng 6 chiếc răng cửa bị gãy rời, miệng tê bết máu. Gia dình cháu cho biết, khi Sơn đang đứng câu thì Huy học cùng lớp ra đứng sau lưng ẩn dọa, nào ngờ bạn ngã ngay xuống bị cọc tre đâm vào miệng. Vui đùa là chuyện thường của mọi lứa tuổi, song có những chuyện đùa rất nguy hiểm không lường hết hậu quả.
Chết vì chủ quan
Hiện nay, nạn sốt xuất huyết lại đang “nổi loạn” ở nhiều nơi. Mong mọi người hãy tới các trung tâm y tế, bệnh viện khám để phát hiện sớm khi có triệu chứng bị sốt. Tránh xảy ra những trường hợp đáng tiếc như cháu Hùng ở thị xã Cửa Lò – Nghệ An. Hùng đã không thoát khỏi cái chết khi tuổi đời còn quá nhỏ (5 tuổi). Nguyên nhân: Hùng bị sốt nhưng người nhà chủ quan, tưởng rằng chỉ sốt thường nên tự cho uống kháng sinh và điều trị lấy. Khi phát hiện ra sốt xuất huyết thì bệnh đã quá nặng không thể cứu vãn được.
Gẫy ngón chân cái
2 cụ Hiển 71 tuổi ở ngõ Ngô Sĩ Liên – Hà Nội đèo nhau bằng xe đạp, do mởi lưng nên cụ bà xoay người, chẳng may cụ cho chân vào bánh xe. Khi gỡ ra được ngón chân cái đã gẫy. Chuyện bị bánh xe nghiên chân khi đang tham gia giao thông khá phổ biến, nhất là với cụ già và trẻ nhỏ. Các chủ phương tiện xe máy (cả xe đạp) nên hết sức chú ý và nhắc nhở người ngồi sau.
Không đơn giản
Ngày 10.10 hai bạn Thu Hằng, Thanh Thủy ở 162 Tôn Đức Thắng, Hà Nội đi học về muộn, vừa đói lại mệt, nên cằm vội nồi cơm điện. Khi cạn nước hai bạn hấp thịt trên mặt. Gạo thì ít bát thị lại to, thành ra cơm và thức ăn chưa kịp chín đã được chuyển vào dạ dày. Khoảng 20 phút sau cả 2 xuất hiện đau bụng, nôn… và phải đi cấp cứu.
Chuyện ăn vội bị nghẹn hóc đã nhiều nhưng vội ăn như trên cũng không phải hiếm. Chuyện ăn uống đau đơn giản.
NB –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Viêm phế quản mạn tính

Ông Nguyễn Văn Lung và nhiều bạn đọc hỏi: bệnh viêm phế quản nạn tinh có chữa được không, cách chữa như thế nào? Phó giáo sư – Phó tiến sĩ Hoàng Minh – Chủ nhiệm Khoa cấp cứu Viện lao và bệnh phổi có bài viết trả lời về vấn đề này.
Viêm phế quản mạn tính, theo đúng định nghĩa của Hội đồng nghiên cứu khoa học nước Anh, định nghĩa này được đa số các nhà khoa học trên thế giới và ở nước ta chấp nhận là “tình trạng bệnh lý của phế quản gây ra ho khạc kéo dài ít nhất 90 ngày trong một năm trong hai năm liền, ho khạc không do các bệnh thường gặp như lao, giãn phế quản, áp xe phổi, bụi phổi, v.v… gây nên”.
Viêm phế quản mạn tính xảy ra là do có vi khuẩn thâm nhập vào đường thở. Vi khuẩn cũng thường là nguyên nhân gây các đợt bội nhiễm làm cho người bệnh phải đến viện.
Các vi khuẩn gây viêm phế quản mạn tính rất đa dạng, độ nhạy cảm của chúng đối với từng loại kháng sinh cũng rất khác nhau: phế cầu nhạy cảm với penicillin, tụ lại lại gần như kháng hoàn toàn với loại thuốc này v.v…
Tuy nhiên, hai vi khuẩn thường gặp nhất là phế cầu, H. influenzae vì thế điều trị viêm phế quản mạn tính thông thường có thể cho các thuốc penicillin, ampixilin, cephalexin, erythromycin, chlorocid, co – trimoxazol v.v… Thường thì người ta cho phối hợp 2 loại kháng sinh ví dụ pencillin hoặc ampixilin, cephalexin với chlorocid hoặc với cotrimoxazol.
Đối với tụ cầu phải cho methicillin, cephalosporin thế hệ 3 (fortum, kefadim) v.v… Nếu nguyên nhân là do trực khuẩn mủ xanh phải cho unasyn, cefrom (cephalosporin thế hệ 4) v.v… Nghĩa là tùy loại vi khuẩn gây bệnh mà cho các loại kháng sinh thích hợp.
Nguyên nhân quan trọng nhất gây viêm phế quản mạn tính là khói. Ở các nước kinh tế phát triển là khói thuốc lá. Ở các nước đang phát triển là khói sinh hoạt (khói đun nấu…) khói thuốc lào, thuốc lá, nạn ô nhiễm môi trường v.v…
Do vậy nếu viêm phế quản mạn tính ở người nghiện hút thì không thể chỉ chứa bằng kháng sinh mà phải kết hợp cả cai hút thuốc v.v…
Để chữa các đợt cấp của viêm phế quản mạn tính thì có thể đơn giản nhưng chữa khỏi hoàn toàn (điều trị tuyệt căn) không phải dễ, khi này người bệnh nên đến các cơ sở chuyên khoa để có được sự điều trị tối ưu.
Đang có lại chửa tiếp
Chị Debbie Gilgert sắp sinh đôi, nhưng đây là một trường hợp rất kỳ lạ. Chị là người đầu tiên ở Anh có thai đứa con thứ thai trong khi đã mang thai. Các bác sĩ khẳng định rằng hai bào thai – một trai và một gái – đang ở trong những giai đoạn phát triển hoàn toàn khác nhau trong tử cung.
Bác sĩ theo dõi mô tả trường hợp mang thai đôi này là “hoàn toàn không thể tin được” vì thông thường khi có thai, trứng sẽ ngừng rụng và không thể có chuyện thụ thai nữa. Chuyên gia về phụ khoa Richard Dechazal cũng “chưa bao giờ gặp một trường hợp tương tự. Cả hai bé đều rất khỏe mạnh, chỉ có điều một em thì nhỏ hơn nhiều so với em kia, bởi vì em nhỏ hơn một tháng tuổi”.
Siêu âm cho biết em gái đã được đặt tên là Lucy được thụ thai trước. Bé trai Timothy được thụ thai một tháng sau đó. Nếu không có gì bất thường xảy ra, thì cả hai đều chào đời vào cuối tháng 11 này. Ông De Chazal – chuyên gia về phụ khoa ở Bệnh viện Hoàng gia Leichester rất quan tâm đến trường hợp này. Ông đã liên hệ với tất cả các tổ chức y tế trên thế giới và dự định trình bày trường hợp này tại một hội nghị về sản khoa vào tháng 12. Ông De Chazal chỉ tìm thấy 5 trường hợp tương tự có tài liệu chứng minh trên thế giới. Tiến sĩ Rosemary Leanard, một chuyên gia y học, cho biết trường hợp mang thai đôi này có thể xảy ra vì các mức hormon của chị Debbie từ lần mang thai trước rất thấp và vì vậy sự rụng trứng không ngừng lại.
Hang Nam –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Để thai không bị suy dinh dưỡng

Giáo sư Từ Giấy – nhà dinh dưỡng học quen biết với chúng ta vẫn thường nói: “chúng ta đã có nhiều hoạt động chăm sóc những người cao tuổi. Nhưng sẽ là quá muộn nếu lo cho các cụ ở tuổi đã cao. Hãy chăm sóc tất cả mọi người từ lúc còn bé thơ và ngay khi còn trong bụng mẹ – cũng có nghĩa là không để thai bị suy dinh dưỡng”.
Thế nào là thai suy dinh dưỡng (SDD)
Thai suy dinh dưỡng còn được gọi bằng một tên khác là “thai chậm phát triển trong dạ con”. Đó là những thai đẻ ra có thể đủ tháng, có thể thiếu tháng (hoặc non tháng) nhưng cân nặng của thai không đạt được mức độ trung bình thấp nhất của các thai ở lứa tuổi thai đó. Ví dụ: với thai đủ tháng nếu cân nặng dưới 2500 gam thì thai đó là suy dinh dưỡng.
Cần phân biệt thai suy dinh dưỡng với thai suy. Thai suy là tình trạng thai nhi bị thiếu oxy (dưỡng khí), khi còn trong bụng mẹ. Thai có cân nặng bình thường hay nhẹ cân đều có thể bị suy, khi máu mẹ không cung cấp đủ lượng o xy cần thiết để nuôi dưỡng nó.
Cũng cần phân biệt thai suy dinh dưỡng với thai non tháng, vì cả hai loại này đều có cân nặng dưới mức trung bình thấp của thai đủ tháng. Ví dụ: thai đẻ ra ở tuần 36, nếu cân nặng 2400 gam hoặc hơn thì chỉ là thai non đơn thuần không bị suy dinh dưỡng, nhưng ở tuổi thai này cân nặng chỉ 2100 gam hoặc thấp hơn thì thai đó vừa non tháng vừa suy dinh dưỡng.
Tại sao thai bị suy dinh dưỡng.
Nguyên nhân thai bị suy dinh dưỡng có nhiều: nguyên nhân từ mẹ, do bản thân thai nhi và có khi do bất thường ở các phần phụ của thai như rau thai, dây rốn.
Về phía mẹ – nhiễm độc thai nghén, cao huyết áp, các bệnh thận, bệnh tim, bệnh máu, đái đường, tình trạng ăn uống kém, ăn không đủ no về chất hoặc cả về lượng kéo dài (đói ăn); các bà mẹ nghiện rượu, nghiện thuốc lá, ma túy; các bà mẹ phải lao động quá sức, luôn phải sống trong tình trạng lo âu căng thẳng, sợ hãi đều có thể làm cho thai bị suy dinh dưỡng.
Về phía con, tình trạng chứa nhiều thai (thai đôi, thai ba…), thai bị nhiễm khuẩn, nhiễm vi rút ngay khi còn trong bụng mẹ, các thai có dị tật di truyền ở bụng mẹ, các thai có dị tật di truyền ở thể nhiễm sắc… cũng có thể làm cho thai phát triển chậm trong dạ con.
Về phía các bất thường của phần phụ thai nhi như rau tiền đạo, rau bong non một phần khi có thai, các u máu ở rau, các chất thường về dây rốn như dây rốn bám màng, khuyết tật chỉ có một động mạch rốn đơn độc…
Ngoài ra, còn khoảng 20 – 30% các trường hợp thai suy dinh dưỡng không rõ nguyên nhân. Có điều một bà mẹ lần trước có thai đã suy dinh dưỡng, thì lần có thai sau cũng dễ gặp lại tình trạng đó.
Làm soa biết thai đã bị suy dinh dưỡng
Thai bị suy dinh dưỡng không có các triệu chứng rõ rệt trên cơ thể người mẹ, do đó khó chẩn đoán. Khi khám thai, người nữ hộ sinh thường chỉ thấy bụng bà mẹ nhỏ, chiều cao dạ con phát triển không phù hợp với tuổi thai. Ví dụ một thai đủ tháng, chiều cao dạ con đo từ xương mu trở lên phía rốn ít nhất cũng phải bằng hoặc lớn hơn 30 cm, nhưng nếu khi khám chỉ đo được 26 – 27 cm thì phải nghĩ đến thai bị suy dinh dưỡng. Mỗi tuổi thai có một chiều cao dạ con tương ứng của nó, ví dụ khi chiều cao dạ con 28 cm ở người có thai khoảng 8 tháng (33 – 34 tuần) thì bình thường, nhưng nếu là ở người có thai đủ tháng thì là thai suy dinh dưỡng. Vì thế các bà mẹ luôn phải nhớ đúng ngày có kinh lần cuối trước khi có thai của mình, để từ đó thầy thuốc tính được tuổi thai một cách chính xác. Ở các chuyên khoa sản, người ta có thể dùng các máy hiện đại (siêu âm) để giúp chẩn đoán và theo dõi tuổi thai và sự phát triển của thai. Tuy nhiên các dấu hiệu dạ con nhỏ, chiều cao dạ con thấp so với tuổi thai vẫn là dấu hiệu chính để phát hiện, chẩn đoán thai suy dinh dưỡng.
Nguy hại của thai suy dinh dưỡng
Thai suy dinh dưỡng có thể coi như thai đã bị ốm yếu ngay khi còn trong bụng mẹ, thậm chí có thể gây tử vong cho thai (thai chết lưu). Khi ra đời thai suy dinh dưỡng cũng dễ ốm đau, quặt quẹo, khó nuôi, đặc biệt khi thai suy dinh dưỡng kết hợp với non tháng thì tiên lượng cho con càng xấu, tử vong sơ sinh sẽ rất cao. Thai suy dinh dưỡng nếu nuôi được cũng thường phát triển chậm cả về thể chất lẫn tinh thần.
Làm thế nào để thai không bị suy dinh dưỡng
Trước hết về phía bà mẹ, khi có thai cần được ăn no, ăn đủ chất cần thiết cho sự phát triển của bào thai như các loại thịt, đậu, trứng, sữa, tôm, cá, các rau quả tươi. Có thể uống thêm viên sắt từ khi có thai đến sau khi đẻ để chống thiếu máu. Ngoài chế độ dinh dưỡng còn cần một chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý và tránh mọi lo âu phiền muộn trong cuộc sống. Bà mẹ không uống rượu và hút thuốc lá khi có thai.
Thực hiện kế hoạch hóa gia đình: đẻ thưa, không nên đẻ khi con ít tuổi (dưới 18) và khi đã lớn tuổi (trên 35) cũng sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng thai suy dinh dưỡng.
Khi đã có thai, bà mẹ phải được khám thai định kỳ đều đặn (1 tháng/ lần), để thầy thuốc kịp thời phát hiện các bất thường về thai nghén và sự phát triển của thai, từ đó có thể tư vấn cho bà mẹ cách chăm sóc sức khỏe để thai không bị suy dinh dưỡng.
BS. Phó Đức Nhuận –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Một vũ khí mới chống bệnh sốt rét

Để chống lại hiện tượng kháng thuốc ngày càng tăng trong điều kiện trị bệnh sốt rét do plasmodium falciparum, các nhà hóa học Trung Quốc đã phân lập được một phần tử mới là artemisin (lấy từ artemine). Tuy nhiên chất này rất khó sản xuất lại dễ bị cơ thể phân hủy. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Johns Hopkins ở Baltimore đã thành công trong việc tổng hợp một phân tử cùng loại artemisin có cùng một hiệu năng lại dễ sản xuất gấp 2 lần. Những thử nghiệm đầu tiên về độc tính của thuốc mang lại kết quả mỹ mãn.
Philippines không thành công trong việc kiểm soát lao
Theo tin từ BMJ, gần hai phần ba số người Philippines mắc lao, và theo như báo cáo quốc gia về cuộc điều tra tần số mới mắc lao trong toàn quốc gần đây thì có tới 5 triệu người mắc mới hàng năm.
Bệnh lao đã giết chết 68 người hàng ngày ở một đất nước mà sự nhận thức về bệnh lao quá xiên lệch đến nỗi một số thầy thuốc thực hành xem các loại thuốc chống lao như là “các loại thuốc bổ cho phổi”.
Theo Tổ chức Y tế thế giới thì Philippines đứng hàng thứ 4 trên thế giới về số lượng bệnh nhân lao và có tỷ lệ cao nhất bệnh nhân lao tính theo đầu người ở khu vực Đông Nam Á. Cựu Bộ trưởng Y tế, Thượng nghị sĩ Juan Flavier đã mô tả tình trạng này như là một “Quả bơm định giờ” đang chờ mổ.
Tiến sĩ Rodrigo Romulo, Chủ tịch Hiệp hội phòng khám lao đã nói: “Một trong những điều chính mà cuộc điều tra nghiên cứu này đã cho chúng ta thấy là tình hình kiểm soát lao mới trở nên xấu đi gần đây so với kết quả trong cuộc điều tra trước đã được tiến hành vào đầu những năm 1980. Tất cả mọi cố gắng trong việc kiểm soát lao đã tiến hành từ đó tới nay không có bất kỳ tác động ảnh hưởng nào”.
Tiến sĩ Leopold Blanc, Cố vấn khu vực về bệnh lây truyền mạn tính tại Văn phòng khu vực của WHO tại Manila nói: ở Philippines, cũng như hầu hết các nước khác ở châu Á, đến nay gần như tất cả các trẻ em đã được tiêm phòng bằng vaccine BCG, mặc dù nó không đem lại sự bảo vệ toàn diện chống bệnh lao.
Cho tới nay, rất ít bệnh nhân lao trong khu vực kháng với tất cả các loại thuốc lao hiện có, mặc dù ở một số vùng có tới 60% bệnh nhân kháng với thuốc thông thường nhất – insoniazid.
Theo Tiến sĩ Blanc trong những năm 1980, những khoản ngân sách lớn giành cho công tác kiểm soát bệnh lao nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã được dùng để phát hiện bệnh nhiều hơn là để đảm bảo bệnh nhân được điều trị đầy đủ. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ Philippines vừa mới đưa ra một chiến lược mới trong đó có nhấn mạnh đến chương trình DOTS (điều trị hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát), nhờ đó bệnh nhân được giám sát chặt chẽ để đảm bảo đã được điều trị đủ thuốc.
Cuộc điều tra cho thấy, dẫu sao, còn hơn 50% bệnh nhân với những triệu chứng lao không muốn tìm đến sự giúp đỡ của các cơ sở y tế, một phần lý do dẫn đến tình trạng này, theo Tiến sĩ Romulo là do cảm giác ô danh của bệnh nhân đối với bệnh nhân này. Bệnh lao thường được nhìn nhận như là một loại bệnh đang hổ thẹn và không sạch sẽ. Thậm chí nếu bệnh nhân có tình đến sự giúp của y tế thì nhiều người cũng không tin rằng thuốc lao sẽ được thành lập để tìm biện pháp khắc phục sự lúng túng này và hiện nay đã xây dựng được một chiến lược thống nhất.
Lê Chí Thành –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Phơi nắng lợi hay hại?

Các chuyên gia ngành da liễu cho biết: mặt trời tác động đến cơ thể con người chủ yếu qua da. Nếu da nhận không đủ ánh sáng thì xương sẽ giòn do thiếu vitamin D (vì thế trẻ em ở Bắc cực thiếu ánh sáng mặt trời thường mắc bệnh còi xương), ngược lại nhiều người phơi nắng quá giới hạn cần thiết, hấp thụ nhiều tia phóng xạ dẫn đến da khô, gây bệnh ngứa, có thể mắc bệnh chàm hoặc nguy hại hơn là bệnh ung thư da. Riêng ở Đức trong năm qua đã có 13 nghìn người mắc bệnh ung thư da do nguyên nhân này.
Các chuyên gia ngành da liễu đưa ra lời khuyên bổ ích sau:
Không nên phơi nắng giữa trưa, vì ánh nắng buổi trưa làm cho da chóng bị lão hóa hơn, xác xuất mắc bệnh ung thư tăng lên.
Phải có mũ nón khi đi ngoài nắng. Không làm việc ngoài trời nắng quá lâu, da bị cháy nắng, rất nguy hiểm, rất dễ bị ung thư da.
Sau khi tắm, da rất nhạy cảm, cần dùng kem bảo vệ da.
Như vậy việc tắm nắng là có lợi cho sức khỏe của người dân ở các nước khí hậu ôn đới, hàn đới, nhưng cũng chỉ trong liều lượng thích ứng. Còn ở ta với lượng nắng có phần thừa thãi thì nên phải rất chú ý bảo vệ da khi làm việc và nghỉ ngơi ngoài nắng.
Những bệnh chống chỉ định trong tập luyện thể thao
Hiện nay, phong trào tập luyện Thể dục thể thao của đông đảo quần chúng ngày càng phát triển rộng rãi. Tập luyện Thể dục thể thao có một vai trò hết sức quan trọng không những chỉ trong đấu tranh với bệnh tật, phòng bệnh, củng cố sức khỏe và phát triển thể lực mà còn có vai trò làm chậm lại quá trình lão hóa và kéo dài sự sống cho mọi người trong mọi giai đoạn lứa tuổi.
Tuy tập Thể dục thể thao có lợi như vậy, song không phải bất cứ ai, trong bất cứ lúc nào cũng có thể tập luyện Thể dục thể thao được. Có những người mang bệnh phải chống chỉ định tuyệt đối, lại có những chỉ định đó chỉ tập luyện Thể dục thể thao sẽ tác động ngược trở lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng về tình trạng sức khỏe cho người tập.
Xin giới thiệu một số trường hợp chống chỉ định đối với những người tập luyện Thể dục thể thao: Tất cả những bệnh đang ở trong giai đoạn cấp và bán cấp tính; các bệnh tâm thần; các bệnh nội tạng của hệ thần kinh trung ương ở thể nặng; ung thư ác tính; các bệnh thuộc về hệ tim mạch:
Phình tim và những mạch máu lớn.
Thiếu máu cục bộ tim và thường xuyên lên cơn đau thắt ngực nặng, mới bị nhồi máu cơ tim.
Suy tuần hoàn ở độ II và III của bất kỳ căn bệnh nào.
Một số trường hợp rối loạn nhịp tim (loạn nhịp hoàn toàn, Bloc nhĩ thất toàn bộ).
Các bệnh thuộc về các cơ quan hô hấp:
Bệnh hen phế quản nặng và thường xuyên lên cơn.
Bệnh giãn phế quản ở thể nặng.
Tuân thủ tốt những chỉ định trong tập luyện Thể dục thể thao là tăng cường sức khỏe cho mọi người.
PXN –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Quân đội thi tìm hiểu về dân số kế hoạch hóa gia đình và phòng chống AIDS

Thời gian qua, công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình và phòng chống HIV/AIDS trong quân đội đã được triển khai tích cực: huấn luyện hàng năm cho chiến sĩ về Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, về phòng chống HIV/AIDS; phát triển nhiều tài liệu, băng video, tranh, ảnh, tờ gấp… tổ chức các trung tâm tư vấn tại các quân khu, quân đoàn; tổ chức mít tinh, hội thảo, biểu diễn văn nghệ… về 2 đề tài này. Nhờ vậy, tỷ lệ sinh con trước tuổi 22 của phụ nữ trong quân đội giảm từ 2,82% năm 1993 xuống 0,07% năm 1997; tỉ lệ sinh con thứ ba từ 6,08% năm 1993 giảm xuống 4,5% năm 1997; 100% thanh niên nhập ngũ bị nhiễm HIV đã được phát hiện và xử lý kịp thời; bảo đảm an toàn tuyệt đối trong việc truyền máu.
Để đánh giá thực chất hiệu quả của công tác và nâng cao hơn nữa nhận thức của bộ đội về vấn đề này, Bộ quốc phòng đã tổ chức cuộc thi tìm hiểu nhận thức của bộ đội về “Chương trình Dân số – Kế hoạch hóa gia đình và phòng chống HIV/AIDS trong quân đội năm 1998”, thời gian từ 15/9/1998 đến 30/12/1998. Cả 2 nội dung thi được tiến hành dưới hình thức thi viết và vấn đáp.
Ban hành điều lệ bảo hiểm y tế mới
Ngày 29/9/1998 tại Hà Nội, Bộ y tế đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định số 58/1998/NĐ – CP của Chính phủ ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế (BHYT) mới. Tới dự hội nghị có giáo sư Đỗ Nguyên Phương cùng hơn 200 đại biểu (các đồng chí Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thành, giám đốc các sở y tế, giám đốc bảo hiểm y tế, các cán bộ làm công tác bảo hiểm y tế…) của 61 tỉnh thành phố trong cả nước.
Để thực hiện định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 1996 – 2000 của ngành y tế, Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa hoạt động y tế, đồng thời khắc phục những điểm không còn phù hợp của điều lệ hiện hành, nhằm đưa chính sách Bảo hiểm y tế phát triển thêm một bước mới, sau gần 4 năm nghiên cứu, soạn thảo, khảo sát, trưng cầu ý kiến cơ sở và các cấp các ngành có liên quan, ngày 13/8/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ – CP thay thế Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 về Điều lệ Bảo hiểm y tế. Điều lệ Bảo hiểm y tế mới có 8 chương bao gồm 32 điều với những điểm cơ bản; Mở rộng chính sách Bảo hiểm y tế; đa dạng hóa các loại hình y tế để đông đảo các tầng lớp dân cư có điều kiện tham gia Bảo hiểm y tế vì lợi ích cá nhân và của cộng đồng; xác định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện chế độ Bảo hiểm y tế; thực hiện phương thức cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo mức chi phù hợp với khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế; đảm bảo quyền lợi của người có thẻ Bảo hiểm y tế, thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh; thống nhất công tác quản lý hệ thống Bảo hiểm y tế theo ngành dọc để chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước được thực hiện công bằng, đồng bộ và có hiệu quả.
Ứng dụng có hiệu quả nhiều đề tài
Thời gian qua, Viện trang thiết bị và công trình y tế đã nghiên cứu thành công, nghiệm thu nhiều đề tài, trong đó một số đề tài được ứng dụng trong thực tiễn có hiệu quả: Sản xuất chỉ khâu phẫu thuật tư tiêu các cỡ, ứng dụng phương pháp khử trùng bằng tia gama trong quá trình sản xuất chỉ khâu phẫu thuật, nghiên cứu chế tạo máy lọc nước vô trùng, điều chế zaven… Ngoài ra viện cũng đã và đang nghiên cứu hoàn chỉnh một số đề tài: đóng chỉ catgut dạng vỉ, tủ nuôi cấy vô trùng, máy nha học đường, máy sắc thuốc chạy điện 12 – 15 thang/ lần cho đông y.
TH – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998