Nước uống tập luyện

Khoa học đã chứng minh, nước là một thành phần quan trọng cấu thành nên cơ thể con người. Trong một ngày, cơ thể con người cần thiết bổ sung 2,5 lít nước đã thải ra các đường như: hô hấp, nước tiểu, mồ hôi… Các nhà khoa học cũng chứng minh rằng thức ăn đã cung cấp 1 lít nước cho cơ thể, còn 1,5 lít kia phải được nước uống mang lại. Trong luyện tập thể dục thể thao, vấn đề nước uống còn quan trọng hơn bởi với lượng vận động cao, cơ thể người tập, thi đấu sẽ mất nước nhiều hơn bình thường. Nếu Vận động viên luyện tập với cường độ cao, trong 1 giờ Vận động viên đó đã mất lượng nước bằng đúng cơ thể tiêu thụ trong một ngày tức 2,5 lít nước. Chính vì vậy, việc bổ sung nước uống trong tập luyện Thể dục thể thao là vấn đề cực kỳ quan trọng. Bởi nếu không bổ sung kịp thời thì cơ thể ta sẽ rơi vào trạng thái nguy hiểm vì thiếu nước.
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là uống nước như thế nào cho đúng? Nhiều người, ngay cả các Vận động viên chuyên nghiệp cũng thường suy nghĩ rất đơn giản: “Khát thì uống, uống đến khi nào hết khát thì thôi”. Thật ra nếu, chúng ta biết uống như thế nào cho điều độ, uống đủ nước khi cần thì lại có ích lợi vô cùng lớn.
Đối với các Vận động viên, hai giờ trước khi thi đấu bạn hãy uống khoảng 50ml nước để tạo điều kiện cho sự bài tiết mồ hôi. Còn trong khi luyện tập thì bạn hãy uống vào các lần nghỉ để kiểm tra xem uống bao nhiêu là đủ, bạn hãy thử tính trọng lượng nước trong và sau khi tập luyện. Còn nếu thực hiện những buổi tập với cường độ lớn, căng thẳng kéo dài hơn 1 giờ thì bạn phải duy trì lượng glucose trong máu bằng cách uống một lượng nước là 450 – 950 ml. Trong thành phần của lượng nước này phải chứa từ 4 – 5% carbohydrat (không quá 10%, vì nó sẽ ảnh hưởng lớn đến men tiêu hóa của bạn). Các loại carbohydrat có thể dùng được là: glucose, sancrose, maltodextrin. Ngoài các loại nước uống có chứa carbohydrat, các Vận động viên cũng như mọi người khi tập luyện, thi đấu thể thao nên uống những loại nước uống có chứa nhiều thành phần Vitamin B (những thành phần này đặc biệt có nhiều trong sữa). Sự cấp bách trong vấn đề nước uống đã được giáo sư, tiến sĩ Clark, Trưởng bộ môn dinh dưỡng thuộc trường Đại học y học thể thao thuộc tiểu bang Pensylvania (Hoa Kỳ) khẳng định: “Cơ thể con người cần hai giờ để tái tạo Glycogen một cách hiệu quả, sau đó tiến trình này diễn ra rất chậm. Vì vậy, để cơ thể được thăng bằng trong trạng thái tốt thì phải bổ sung nước uống một cách đúng lúc”.
Vâng có thể nhiều lúc chưa chú trọng đến nước uống, nhưng bạn hãy nhớ rằng, nước trong thành phần dinh dưỡng của cơ thể được người ta xếp trên cả protein chất béo. Vitamin, chất khoáng, chất sắt và nếu ai đó chỉ cần mất một lượng nước bằng 2% trọng lượng cơ thể sẽ gây nên các chứng rối loạn tim mạch, ngăn chặn sức nóng thẩm thấu qua da… Tốt nhất là bạn nên uống khi khát, nhưng hãy uống cho đúng, cho khoa học.
Thể thao thế giới
Trung tâm y học Thể dục thể thao: dự kiến sẽ khánh thành vào tháng 12/98 tại 141 Nguyễn Thái Học. Lần đầu tiên ở nước ta ra đời một trung tâm y học thể dục thể thao quy mô như thế. Dự tính ban đầu sẽ có 20 giường bệnh cùng các máy móc thiết bị hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu và điều trị các chấn thương thể thao, hồi phục phong trào thi đấu cho vận động viên sau chấn thương và sau thi đấu.
7 giờ 30 phút sáng 28/9 tại quảng trường Ba Đình Hà Nội sẽ diễn ra lễ ra mắt trung tâm UNESCO thái cực trường sinh đạo. Tại buổi lễ sẽ có các màn đồng diễn phong phú, đẹp mắt chào mừng ngày quốc tế người cao tuổi do các học viên, giáo viên thái cực trường sinh đạo biểu diễn.
Từ 25/9 – 10/10 tại TTHLQG 1 (Nhổn), lớp đào tạo Huấn luyện viên tự do và cổ điển do giảng viên của Tổ chức Olympic quốc tế (IOC) cử đến Việt Nam. Kết thúc khóa học sẽ có khoảng 30 Huấn luyện viên Việt Nam được cấp bằng quốc tế.
So với 8 huấn luyện viên tại Sea games 19 Sea games 20 tại Bruney, bắn súng Việt Nam chỉ tham dự có tính chất học hỏi. Do nước bạn chỉ có trường bắn cho một loại là bắn đĩa bay nên các loại hình bắn súng sở trưởng của ta không tham dự.
Giải vô địch bắn súng quốc gia lần thứ 34 sẽ diễn ra từ 1 – 13/10 tại TTHLQG. Cũng như mọi năm, giải là dịp đánh giá trình độ huấn luyện viên của từng địa phương, trình độ đẳng cấp Vận động viên cũng như rà soát lực lượng Vận động viên chuẩn bị Asiad 98 các giải khu vực và Sea games 2003 tại Hà Nội.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Bỏng do ăn vôi

Cháu Đỗ Thị Vui 20 tháng tuổi ở Hà Hiệp – Hà Tây, nhặt cục vôi chưa tôi cho vào miệng ăn, sau đó bị bỏng nặng. Tại Viện tai mũi họng cháu được các bác sĩ cấp cứu kịp thời nên tránh được cơn nguy biến. Gia đình có con nhỏ phải trông giữ cẩn thận nhất là lúc các cháu chập chững tập đi, vì chúng vớ được gì cũng cho vào mồm.
Đừng coi thường…
Anh Nguyễn Văn Biện 36 tuổi ở Song Mai, Bắc Giang, đang khỏe mạnh thì bỗng dưng xuất hiện triệu chứng (lúc trái gó, trở trời): khó thở, da tím ngắt, kém ăn uống… Các bác sĩ đã soi thanh quản và gấp ra một chiếc răng giả. Anh Biện cho biết chiếc răng anh đã nuốt cách đây 5 năm!
Ăn rau nên nhớ
Ngày 4 – 9 – 1998 2 bạn Lương Thu Hương, Nguyễn Bảo Chân là sinh viên trường đại học Dược Hà Nội, đang giờ học thì bị đau bụng quằn quại, toát mồ hôi hột. Nguyên do buổi trưa hôm đó 2 bạn ăn cơm canh rau cải ở quán bình dân (đường Phan Huy Chú). Thời tiết nóng, rau cải được tưới bằng hóa chất không có điều kiện phân hủy nên đã gây hậu quả. Vậy khi mua rau về ta phải rửa ngâm thật kỹ trước khi nấu.
Khách đám cưới vào… phòng cấp cứu
Ngày 9 – 9 – 1998, 42 người dự đám cưới ở xã An Nông (Tam Nông – Đồng Tháp) sau khi ăn xong đã đồng loạt đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy phải vào phòng cấp cứu. Tìm hiểu mới hay trong mâm cỗ có món súp cua biển hết “đát”. Tưởng sau bữa tiệc được đi đón dâu ai ngờ… Các gia chủ những bữa tiệc khác nghĩ sao.
Sức khỏe & dời sống đây
Khác nhiều báo khác. Đọc Sức khỏe đời sống. Chúng tôi thường giữ lại vì trong đó có bao điều cần thiết cho sức khỏe, nhất là với chúng tôi những người lính ở biên cương tổ quốc. Có đồng chí còn chép lại bài báo gửi về quê cho “bu nó” để biết mà chăm sóc cho tốt thằng cu mới sinh. Riêng tôi hơi bị phiền phức vì trong đơn vị có hai đồng chí đố nhau: Báo Sức khỏe đời sống có bao nhiêu mục? Và tôi làm trọng tài. Nhưng “trọng tài” này không phải trọng tài bóng đá nên cả hai bên cùng… không phục. Xin sức khỏe đời sống cho đáp án!
Nguyễn Văn Lẫm (Hà Giang)
Trọng tài bị thẻ vàng và đồng chí định đá quả bóng về cho Sức khỏe đời sống nhưng có khi chúng tôi cũng bị… việt vị như đồng chí. 16 trang mỗi số không phải lúc nào cũng đủ các mục vì… báo có nhiều mục. Vả lại, các mục luôn cải tiến nên không hiểu các đồng chí định tìm hiểu trong thời gian nào. Hiện nay Sức khỏe đời sống có các mục như:
Trang 1: Ảnh đẹp, Qua phòng cấp cứu
Trang 2: Tin tức, Y tế địa phương
Trang 3: Qua phòng cấp cứu, Thư bạn đọc, Ý kiến công dân, Bạn đọc viết, Hồi âm, Theo thư bạn đọc, Trao đổi, Sức khỏe đời sống đây, Đặt tên cho ảnh.
Trang 4: Gặp gỡ, Phiếm đàm, Phóng sự
Trang 5: Phóng sự, Diễn đàn, Thầy thuốc kể chuyện, Chuyện đời thường, Đọc nhanh các báo.
Trang 6, 7: Dân số và phát triển, Dinh dưỡng cho mọi nhà, Thầy tại chỗ – thuốc tại chỗ, Lời khuyên của thầy thuốc, Sức khỏe nói chuyện, Chuyện lạ ngành y, Bạn có biết.
Trang 8, 9 là trang thể thao – Khỏe đẹp
Trang 10, 11: Thơ, Truyện ngắn, Chân dung văn nghệ sĩ, Thư giãn, các bài về Văn hóa, nghệ thuật, tin Văn hóa nghệ thuật.
Trang 12 về y học cổ truyền có Tủ thuốc xanh, Chữa bệnh không dùng thuốc.
Trang 13: Dạo quanh thị trường thuốc, Tủ thuốc gia đình, Dùng thuốc nên biết, Có thể bạn chưa biết, Thuốc cấm lưu hành.
Trang 15 về Quốc tế có chuyên mục Sự kiện và ý kiến, Qua mạng Internet.
Tất nhiên còn mục nữa là… Quảng cáo.
Nhân đây, bạn đọc và Cộng tác viên gửi về tòa soạn thư hỏi, yêu cầu, bài, tin, ảnh xin đề thêm ngoài phong bì tên trang, mục để biên tập viên trả lời và sử dụng nhanh nhất.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nho một loại quả ngon và bổ

Nho, theo y học cổ truyền có vị ngọt, chua, tính bình, có tác dụng tư thận ích gan, bổ huyết, cường cân kiên cốt, thông kinh hoạt lạc, bổ khí hòa trung… có thể dùng để chữa trị các chứng khí huyết hư nhược, phổi yếu hay ho, phong thấp đau xương, hay hồi hộp, ra mồ hôi trộm, tiểu tiện khó, da mặt vàng vọt, người gầy gò. Theo “Thần nông bán thảo kinh” thì nho “ích khí bội lực, béo tốt, chịu đựng được đói khát, gió rét. Có thể dùng làm rượu. Trong cuốn “Tùy tức cư ẩm thực phổ” viết: nho “bổ khí, làm tăng dịch thận, bổ ích gan âm, cứng gân cốt, giải khát, an thai”.
Khoa học hiện đại về y dược học đã chứng minh là nho có thể giúp cho việc chữa trị bệnh thiếu máu, huyết áp thấp, viêm dạ dầy mạn tính, viêm các khớp do phong thấp mạn tính…
Trong mỗi 100 gam nho tươi có chứa 0,6 mg sắt, có tác dụng cải thiện tình trạng thiếu máu, làm da thịt thêm hồng hào, mịn màng. Người thể chất hư nhược, huyết áp thấp, thiếu máu, gầy gò, sau bữa ăn hàng ngày ăn một ít nho tươi hoặc nho khô, hoặc uống một ít rượu vang có thể làm cho thân thể khỏe mạnh, chữa trị được bệnh tật, da dẻ hồng hào, mịn màng.
Phụ nữ khi mang thai, ăn một số lượng nho vừa đủ (nho tươi hoặc khô cũng được) sẽ có tác dụng an thai, có lợi cho sự phát triển của thai nhi, và còn có thể làm cho da thịt của cả mẹ và con đều mịn màng, trắng trẻo.
Nho tuy ăn ngon, nhưng mỗi lần không nên ăn thiếu, nếu không sẽ có tác dụng phụ, như đau bụng, tiêu chẩy, bồn chồn, mắt hoa…
Nho có hàm lượng đường cao, có tác dụng làm cho người béo ra, do đó người béo không nên ăn.
Chữa kinh bế
Người phụ nữ đang thấy kinh bình thường, đột nhiên bị tắt kinh mà không phải là có thai, đồng thời phát sinh bệnh trạng ảnh hưởng đến sức khỏe, như vậy là bế kinh.
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây bế kinh thường do huyết hư, tỷ hũ, hoặc huyết ứ.
Trường hợp do huyết hư: Người bệnh không thấy kinh 2 – 3 tháng, các mặt vàng úa, đầu mặt choáng váng, tim hồi hộp, người gầy yếu, da khô, mạch hư tế. Nguyên nhân thường do cơ thể vốn suy yếu, mắc bệnh lâu ngày, thiếu máu. Có thể dùng bài thuốc sau:
Hà thủ ô (chế) 40 gam, củ gấu (chế) 40 gam, đậu đen (sao) 40 gam, củ gai (sao) 20 gam, lá sung (sao) 40 gam, ích mẫu 20 gam, ngải cứu 16 gam.
Cách dùng: Cho các vị vào ấm, đổ một ít nước, sắc còn 450ml, chia làm 3 lần uống trong ngày. Cũng có thể làm hoàn mà uống.
Trường hợp do huyết ứ, huyết ngưng: Người bệnh sắc mặt xanh sẫm, bụng dưới đau, nắn vào thấy cứng, bụng đầy trướng khó chịu, miệng khô, chất lưỡi đỏ sâm hoặc có điểm tía, mạch huyền sác. Phép chữa là hoạt huyết tiêu ứ (làm cho huyết lưu thông, hết ứ). Dùng một trong những bài thuốc sau:
Bài 1: Củ gấu (chế): 40 gam, ngải cứu: 16 gam, nghệ xanh: 20 gam, ích mẫu 20 gam, mẫn tưới: 30 gam, cỏ roi ngựa: 30 gam. Nếu hàn nhiều gia thêm: gừng khô 8 gam, quế tâm 8 gam.
Cách dùng: cho các vị vào ấm, đổ 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.
Bài 2: Ô dược: 6 gam, hà thủ ô: 12 gam, xuyên khung: 6 gam, mạch nha: 20 gam, đào nhân: 8 gam, mộc hương: 6 gam, thanh bì: 6 gam, hương phụ (chế): 12 gam, xích thược: 12 gam.
Cách dùng: Sắc uống như trên.
Thu Anh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Khó lắm thay cho ứng xử giữa thầy thuốc và bệnh nhân

Thầy thuốc như mẹ hiền là cách ứng xử giữa thầy thuốc và bệnh nhân được Bác Hồ cô đúc một cách xúc tích nhất. Hình như thời kinh tế thị trường đẻ ra khái niệm “khách hàng là thượng đế”, “khách hàng luôn luôn đúng” cho mối quan hệ người mua kẻ bán lại quàng cả vào bệnh viện dù ở đó có người phục vụ và người được phục vụ.
Không, một ngàn lần không nếu coi bệnh nhân là kẻ mua còn thầy thuốc là người bán. Nếu coi như vậy sẽ dẫn đến hai khả năng:
Cửa quyền như thời bao cấp vì “người mua” không có chuyên môn hoàn toàn phụ thuộc vào “kẻ bán”. Thái độ hách dịch, vô trách nhiệm sẽ từ đó phát sinh.
“Khách hàng luôn đúng” sẽ tạo ra thái độ xu phụ với bệnh nhân mà nghịch lý ở đây là người hiểu biết chuyên môn lại phải chiều theo những người không hề biết chuyên môn cốt vừa lòng họ (người bệnh) chứ không vì mục đích chữa bệnh.
Thầy thuốc phải như mẹ hiền vì quan hệ mẹ con là quan hệ tình thân, thương yêu khó có quan hệ nào thiêng liêng và hy sinh hơn. Nhưng có lúc mẹ cũng cần mắng con nếu con không biết nghe lời mẹ. Khi là quan hệ mẹ con sẽ có sự dỗ dành, giận mắng vì mục đích chung là đạt được điều tốt đẹp mà hai bên đều mong muốn. Tất nhiên, chúng tôi nói quan hệ mẹ con trong quan hệ thầy thuốc, bệnh nhân không có nghĩa trong một thầy thuốc và một bệnh nhân cụ thể để rồi từng nhân viên y tế tự cho mình như mẹ thiên hạ. Hẳn bạn đọc hiểu được điều này.
Đã có chuyện bệnh nhân tử vong trong buồng bệnh nhân cụ thể để rồi từng nhân viên y tế tự cho mình như mẹ thiên hạ. Hẳn bạn đọc hiểu được điều này.
Đã có chuyện bệnh nhân tử vong trong buồn bệnh và rồi người nhà khóc lóc ảnh hưởng tới bệnh nhân khác. Có trường hợp gia đình bệnh nhân không muốn đưa thân nhân xuống nhà xác mà cứ đợi để thuê xe đem về quê. Thầy thuốc khuyên giữ gìn trật tự liền bị người nhà Bệnh nhân túm ngực áo lôi đến trước bảng quy định 12 điều y đức chỉ vào điều 9 “Phải thật sự thông cảm…” Biết làm sao khi thông cảm với người này tức là không thông cảm với những người khác ngay trong một khoa, buồng bệnh!
Khi chúng ta quan tâm với Văn hóa y tế trong ứng xử hẳn sẽ giải quyết êm đẹp mối quan hệ phức tạp đầy khoảng cách này. Trước hết, các cơ quan chức năng của Bộ y tế, các cơ sở y tế cần chú ý đầu tiên. Không ít lần tôi đến chú ý đầu tiên. Không ít lần tôi đến Vụ A, Vụ B của Bộ y tế được người có trách nhiệm vẫn ngồi nguyên trên ghế ngước mắt hỏi: “Có chuyện gì đấy”. Sao không thể tặng nhau một ánh mắt thân thiện với lời mời ngồi trước khi muốn biết yêu cầu của người đến tim mình. Không lẽ cán bộ ta bận đến mức phải tiết kiệm từng phút và thái độ chân tình có được khó lắm sao? Chuyện trả lời điện thoại cũng tương tự với những “ai đấy”, “có việc gì đấy” hoặc một cái cúp máy vô tiền khoáng hậu.
Công việc và văn hóa trong công việc là điều cả nhân loại đang hàng ngày rèn giũa, lẽ nào chúng ta, nhất là ngành y với công việc của người thầy lại lãng quên.
Trần Thọ – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tín nhiệm

Trong không khí vui vẻ, bạn gái của Thành là Lan tay đeo vòng ngọc đập mạnh vào tay bạn chúc mừng. Vòng vỡ, mảnh trúng vào mạch máu, chảy “chan chứa”, phải đưa vào bệnh viện huyện cấp cứu. Chị em ta đeo đồ trang sức chú ý trường hợp tương tự trên hoặc có khi bị ngã, trang sức gây thương tích cho chính mình.
Một bà khuyên bạn:
Bà bị đau khớp lâu như thế, theo tôi nên đến nhà ông lang H. mà lấy thuốc, ông ấy rất có tiếng.
Sao bà biết?
Chính tôi bị khớp nặng, gần hai mươi năm nay chỉ uống thuốc đằng ông ta chứ không mua nơi khác.
Mời bạn giải hộ
Ba người rủ nhau vào một nhà hàng, ăn xong phải thanh toán 300.000 đồng. Khách kêu đắt. Cô nhân viên nhận tiền, đưa cho chủ và nói lại lời phàn nàn của khách. Bà chủ đếm 50.000 đồng bảo cô trả lại khách. Cô nhân viên lén bỏ túi 20.000 đồng, chỉ trả lại khách 30.000 đồng.
Lúc đầu khách phải trả 300.000 đồng tức thị mỗi suất 100.000 đồng. Khách nhận lại 30.000 đồng, như thế là mỗi suất chỉ còn 90.000 đồng. 90.000 đồng nhân với 3 người vị chi là 270.000 đồng. 270.000 đồng cộng với 20.000 đồng cô nhân viên ăn bớt là 290.000 đồng.
Tính đi tính lại không hiểu thiếu đâu 10.000 đồng. Mời các bạn giải hộ!
Giá ai cũng được như thế
Bác sĩ Thủy được nêu gương ở trang 3 Báo SK&ĐS số 37 người tốt rõ ràng nhưng bạn đọc Hoàng Ngọc nêu lý do được phục vụ tận tình chỉ vì ông quen với Giáo sư – Viện trưởng, được Viện trưởng giới thiệu với bác sĩ thì cái tốt xem ra cần phải xét lại.
Ông Hoàng Ngọc đau răng, gặp buổi đông bệnh nhân “khó tới lượt mình” vậy mà “vài mươi phút sau” được mời lên thì đúng là được… chen ngang. Vậy bệnh nhân như thế có được vào “áo trắng đèn đỏ” không thưa bác Kháng Sinh Bổ?
(Xí nghiệp khảo sát 252)
Lời bàn: Kháng Sinh Bổ rất tin bác sĩ Thủy là người có khả năng, tốt bụng vì “phòng khám theo yêu cầu” “Phòng chữa bệnh tự chọn” (tên thật là phòng gì?) của bác sĩ xó nhiều người tin yêu mới đông đến thế. Ông Viện trưởng quen với ông Hoàng Ngọc nên phải chọn người có tài tận tâm, nhiệt tình càng chứng tỏ phẩm chất “người nữ bác sĩ trẻ”. Có điều… “nhất thân, nhì quen”, Khấng Sinh Bổ cũng thêm được quen với ông Viện trưởng quá. Trần Vân còn thấy những ai chen ngang nữa để áo trắng đèn đỏ cho vào danh sách.
Kháng Sinh Bổ – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Năm 1997

Đôi điều về bản sắc dân tộc

Sau tám mươi năm Pháp thuộc, không phải là bản sắc dân tộc Việt Nam không bị mờ nhạt, đặc biệt trong tầng lớp “thượng lưu” sinh Tây thuở ấy. Có không ít ông Tây An – Nam như Nam Xương đã lên án. Có ông giáo dạy trường Bưởi lúc nào cũng xì xồ tiếng Tây, ngay khi ở nhà.
Do đó, sau khi giành lại độc lập, dĩ nhiên Cách mạng tháng Tám phải khẳng định bản sắc dân tộc một cách mạnh mẽ để người dân Việt tin vào bản thân mình, dám cầm vũ khí để bảo vệ bản sắc dân tộc mình. Một trong những việc ưu tiên phải làm là dạy tiếng Việt ở các cấp, phát huy “chương trình Hoàng Xuân Hãn”. Vì ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để khẳng định bản sắc dân tộc.
Ba mươi năm chiến tranh để bảo vệ bản sắc dân tộc đã kết thúc thắng lợi.
Từ hơn chục năm nay, Việt Nam, cũng như mọi nước trên thế giới, đều đề ra chiến lược quốc gia bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của “toàn cầu hóa” (globalization). Có lẽ mối bận tâm của mọi quốc gia đều như nhau. Theo chính khách Hàn Quốc Kim Young Sam “Sự phát triển bùng nổ của trao đổi quốc tế về người và hàng hóa cùng thông tin vô tuyến đương nhanh chóng tạo ra một nền văn hóa toàn cầu và một ý thức chung cho cả trái đất. Kết quả là sự va chạm và căng thẳng giữa nền văn hóa thế giới ấy và các nền văn hóa địa phương (quốc gia, dân tộc). Nhất thiết mỗi quốc gia (dân tộc) phải có tinh thần cởi mở chấp nhận nền văn hóa toàn cầu trong khi tự hào về nền văn hóa riêng biệt của mình… Chỉ khi nào gìn giữ được bản sắc dân tộc thì mới có thể đóng góp vào toàn cầu hóa một cách hữu hiệu”.
Có lẽ về cơ bản thì chiến lược văn hóa của Hàn Quốc theo ông Kim Young Sam nêu lên cũng không xa gì đường lối văn hóa của chúng ta: hiện đại mà vẫn đậm đà màu sắc dân tộc.
Hàng mấy chục năm nay,… các nhà lý luận của chúng ta đã có hàng chục cuộc hội thảo, tốn hàng tấn giấy mực để bàn về bản sắc dân tộc. Về đường lối (như trên) thì dễ đi đến thỏa thuận. Nhưng khi thể hiện cụ thể trong tác phẩm (viết, vẽ, nặn tượng, soạn nhạc, sân khấu…) thì khái niệm trở thành lơ mơ. Có lẽ các nhà lý luận phê bình nên chú trọng hơn việc phân tích kỹ tính dân tộc trong một số tác phẩm điển hình: bức tranh này của Tô Ngọc Vân có tính dân tộc hay không có tính dân tộc ở chỗ nào? bài hát kia của Văn Cao có hay không có tính dân tộc? v.v… Có như vậy mới giúp ích thiết thực cho giới sáng tác, nhất là cho các nghệ sĩ trẻ.
Nhân đây, tôi xin nêu một điểm về các khái niệm “bản sắc dân tộc”, “tính dân tộc”, “truyền thống dân tộc”. Nên hiểu các khái niệm ấy một cách “động” chứ không “tĩnh”.
Phần nhiều, khi nói đến “bản sắc dân tộc”, phản ứng tự nhiên của ta là nghĩ ngay đến “bảo tồn” truyền thống hơn là thay đổi để phát huy. Do đó dễ có khuynh hướng nệ cổ. Một nền văn hóa là một cơ thể sống, nó phải thay đổi do các yếu tố nội tại và tiếp biến (acculturation) với các nền văn hóa khác, nếu có khép kín, nó sẽ xuống cấp và chết dần.
Trong bản sắc dân tộc, có những lề thói lâu đời mà cuối cùng tan biến mất vì không còn lý do tồn tại. Thí dụ: tục nhuộm răng đen của ta đã từng được coi là đặc trưng dân tộc Việt Nam. Hịch của Quang Trung đã từng nêu ý chí cương quyết đánh địch để gđể giữ răng đe, khác răng trắng người Ngô (Trung Quốc). Các cuộc điều tra gần đây cho thấy ngay ở nông thôn chỉ còn một ít các cụ trên 60 là con có răng đen.
Không nên hiểu tính dân tộc một cách hình thức. Một họa sĩ có thể sử dụng một số yếu tố của tranh dân gian (không theo luật viễn cận phương Tây, sử dụng mảng màu không đậm nhạt, các màu cổ truyền như cánh sen, nâu…) để vẽ tranh hiện đại. Nhưng nếu không gây được cảm xúc nhuần nhuyễn Đông – Tây thì sáng tác sẽ ngớ ngẩn, mang tính dân tộc giả tạo.
Tôi xin lấy một thí dụ khác, tranh của Phạm Tăng chẳng hạn. Chúng ta đều biết loại tranh trừu tượng không phải của Việt Nam. Vậy mà khi ở u – Mỹ, tôi thấy báo chí và người xem tranh đều khen là tranh trừu tượng hiện đại của anh rất có hồn châu Á và Việt Nam.
Cái hồn dân tộc ấy thật khó định nghĩa, phải trực cảm nhiều hơn suy luận.
Tôi rất thích thú câu “Tất cả mọi truyền thống đều là thay đổi” là tên một cuốn sách bằng tiếng Anh của Thụy Điển viết về nghệ thuật dân gian thủ công nước ấy, đã biểu diễn qua 200 năm để tạo thành nghệ thuật vẽ mẫu (design) ngày nay. Ở Việt Nam, tôi có thể đưa ra dẫn chứng truyền thống nghề sơn. Có từ thời đồ đồng cách đây 2500 năm, sơn đã tiếp biến với văn hóa Trung Quốc (tô, tượng, câu đối…) rồi thay đổi khi tiếp biến với văn hóa Pháp (trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương) để thành sơn mài ngày nay. Nó đã thay đổi, nhưng giữ gìn cái cốt văn hóa dân tộc Việt Nam. Cái cốt đó là gì? Đó là nhiệm vụ tìm hiểu của các nhà nghiên cứu.
Hữu Ngọc –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Số người mù chữ bắt đầu vào tuổi lao động

Theo số liệu điều tra Chính phủ Trung Quốc đến hết năm 1993, dân số của nước này là 1,185 tỷ người. Theo dự đoán, sức ép dân số vẫn tiếp tục gia tăng vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Trung bình hàng năm số dân tăng 14,5 triệu người cho dù Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp kế hoạch hóa dân số rất kiên quyết để hạ tỷ lệ tăng dân số vào năm 1995 là 1,4%. Các chuyên gia dự đoán đến năm 2000, dân số sẽ là 1.287 tỷ người, so với 7 năm trước tăng 102 triệu người (tăng thêm gấp 1,5 lần dân số hiện nay của Việt Nam). Tuy nhiên 33 năm sau, năm 2033 dân số nước này chỉ tăng lên đến 1,5 tỷ người và sẽ giảm dần vào những năm giữa thế kỷ XXI.
Về chất lượng dân số, tuy trình độ văn hóa chung của người dân Trung Quốc có được nâng lên khá rõ, song hiện vẫn là một nước có trình độ văn hóa ở mức trung bình thấp so với trình độ chung của các nước trên thế giới. Số người mù chữ bắt đầu vào tuổi lao động  (15 tuổi) là 182 triệu người, chiếm 16,1% tổng dân số dân. Tỷ lệ này là quá cao so với các nước phát triển như Nhật Bản 1%, Mỹ 2%, Cộng hòa liên bang Đức 1,5%… Trong khi đó, người có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 1,4% tổng số dân. Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đang bằng mọi cách giảm tỷ lệ người mù chữ vào đầu thế kỷ sau xuống còn 6,7%.
Một vấn đề đau đầu là trong khi dân số vẫn tăng, đời sống kinh tế khá hơn, các điều kiện đảm bảo đời sống và sức khỏe cho người cao tuổi tốt hơn, thì số lượng người già trên 65 tuổi cũng tăng lên. Theo dự đoán thì năm 2000 nước này có khoảng 88 triệu người trên 65 tuổi, chiếm 6,8% tổng số dân, so với 10 năm về trước (1990) số người già trên 65 tuổi là 64,18 triệu, mới chiếm 5,6% tổng số dân. Năm 2004 là 7% năm 2023 là 14,5%.
Vấn đề việc làm ở Trung Quốc cũng đang là vấn đề hết sức cấp bách. Năm 1990, Trung Quốc có 681 triệu người trong độ tuổi lao động (từ 16 – 59 đối với nam, và 16 – 54 đối với nữ). Đến năm 2000, con số này sẽ tăng lên 774 triệu năm 2010 là 885 triệu, năm 2020 là 893 triệu, nhưng đến năm 2030 giảm xuống 840 triệu. Như vậy, 30 năm đầu của thế kỷ XXI, số lượng lao động ở Trung Quốc xấp xỉ một tỷ người. Bình quân mỗi năm ở nước này có thêm 9 triệu người bước vào tuổi lao động. Trong vòng 20 năm tới, số lượng này gia tăng khoảng 180 triệu, lực lượng lao động càng tăng thì sức ép về việc làm càng lớn.
Sự biến đổi về dân số ở Trung Quốc đã tác động mạnh đến vấn đề việc làm, mặt khác, nó còn làm thay đổi khả năng và thực tế bố trí lao động theo ngành nghề.
Theo số liệu điều tra, năm 1993 với 605,9 triệu việc làm trên toàn quốc thì nông nghiệp chiếm 57,4%, công nghiệp chiếm 22,4% trong tổng số việc làm. Qua đó chúng ta thấy vào những năm 1993 – 1994, lực lượng lao động của Trung Quốc vẫn chủ yếu nằm ở khu vực sản xuất nông nghiệp và nông thôn, trong khi đó GDP lại chủ yếu được tạo ra ở khu vực sản xuất công nghiệp, ở các trung tâm công nghiệp và các thành phố lớn. Với 57,4% lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp tạo ra chỉ chiếm 21,2% GDP. Công nghiệp với 22,4% lực lượng lao động nhưng lại chiếm tới 52,8% GDP. Vậy là, việc làm ở Trung Quốc đang là một vấn đề kép, vừa bảo đảm tăng năng suất lao động, vừa phải nâng cao trình độ người lao động; lại vừa phải điều chỉnh tình trạng bất hợp lý giữa việc làm của cư dân nông thôn và cư dân thành thị và các khu công nghiệp lớn. Vấn đề dân số – việc làm đang là bài toán đau đầu của Chính phủ Trung Quốc trước thềm của thiên niên kỷ mới.
Đỗ Ngọc Yên –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Quả là chuyện độc đáo ở trạm thu phí cầu đường Thăng Long – Nội Bài

Khi đọc bài “Chuyện khó hiểu từ trạm thu phí cầu đường Thăng Long – Nội Bài” của tác giả Lưu Thúy đăng trên báo Sức khỏe và Đời sống ra ngày 19 – 8 – 1998, tôi rất ngạc nhiên về cách xử sự của ông giám đốc phân khu quản lý đường bộ 234. Tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của tác giả: Vấn đề không phải ở chỗ được miễn 10 hay 15 ngàn đồng mà đó là ý nghĩa của việc phân khu 234 chấp hành các quy định của nhà nước đã được thể chế hóa trong các văn bản như thế nào. Đó là sự thể hiện của thái độ xã hội đối với nhà báo khi thực thi công vụ. Tôi cũng là một nhà báo, đã có dịp được đi qua các trạm thu phí cầu đường trên quốc lộ 1, quốc lộ 5 và một số nơi khác đều không thấy xảy ra tình trạng như thế. Đặc biệt là mới đây, trên tuyến quốc lộ 6, phân khu quản lý đường bộ 222 được Nhà nước cho phép lập trạm thu. Thái độ phục vụ của nhân viên hòa nhã, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà báo và phương tiện qua lại đúng quy định của Nhà nước. Đúng là chỉ có phân khu 234 mới có cách thực hiện “độc đáo” như vậy.
Sức khỏe và đời sống đây
Giới hâm mộ bóng đá thuộc hết tên thành viên trong đội tuyển nước nhà nhưng có những người ít được biết tới dù rất quan trọng là… bác sĩ của đội Sức khỏe đời sống có thể giới thiệu bác sĩ của đội tuyển bóng đá nước ta?
Huy Hồng, Thu Trang, Trần Ngọc Vinh (Hà Nội)
Đúng thế, bởi sức mạnh của đội tuyển phụ thuộc nhiều vào thể lực cũng như những chấn thương của cầu thủ được cấp cứu nhanh chóng, kịp thời. Hai bác sĩ trong đội tuyển chúng ta là bác sĩ Quang Thuận và Xuân Lâm. Bác sĩ Quang Thuận năm nay 28 tuổi, tốt nghiệp Đại học y khoa năm 1994 và xung vào đội tuyển tháng 6 năm nay sau khi công tác tại Viện khoa học Thể dục thể thao từ năm 1997. Nếu như cầu thủ cần tốc độ thì Bác sĩ Thuận cũng cần tốc độ trong… điều trị chấn thương để sớm đưa cầu thủ có sự cố ra khỏi giường bệnh càng nhanh càng tốt. Còn Bác sĩ Xuân Lâm phụ trách về dinh dưỡng và phục hồi sức khỏe cho cầu thủ, năm nay 36 tuổi. Hàng ngày anh phải “canh bữa ăn của Vận động viên cho đủ 15% protid, 15% lipid và 60% glucid cũng như bàn với đầu bếp chọn món sao cho ngon miệng. Ngoài ra, anh “bắt” cầu thủ phải ngủ 2 tiếng buổi trưa và 7 tiếng đêm cũng như tránh xa thuốc lá, rượu bia, nhất là trong giai đoạn thi đấu.
Trong những ngày hội bóng đá, tại Hà Nội thường có đua xe máy. Cảnh sát chúng ta đã nỗ lực hết mình nhưng họ không được nổ súng ngoài việc ngăn chặn ngay từ đầu. Ngoài CSGT, CSCĐ còn có lực lượng nào tham gia việc chống đua xe để dân được khỏe, yên ổn trong niềm vui Tiger Cup?
Hoàng Minh (Hà Nội)
Cảnh sát đặc nhiệm Hà Nội đã và đang thường trực 100% quân số với 24/24 giờ từ ngày 24/8 đến hết ngày 6/9. Họ được trang bị xe máy đặc chủng, máy đo tốc độ, súng bắn sơn và súng bắn đạn cay. Cần thiết có cả vòi rồng phun nước để giải tán những hội đua xe và đám người cổ vũ. Trước ngày khai mạc Tiger Cup, hôm 24/8 vừa rồi, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã mở phiên tòa lưu động ngay bên Hồ Gươm xét xử 4 tay đua với mức án 12 – 18 tháng tù giam. Khi chúng ta quyết tâm thì mọi chuyện đều có thể làm được.
Trong Tiger Cup, nếu có 2 đội bằng điểm nhau hiệu số bàn thau và tổng số bàn thắng cũng bằng nhau rồi trận đối đầu trực tiếp cũng hòa nhau thì tính sao? Điều lệ Tiger Cup lần này có thêm điều gì mới?
Trần Văn Chương (Đồng Nai)
Khả năng ông tính có thể xảy ra trong vòng loại của các trận trong bảng. Gặp trường hợp như thế chỉ có cách bắt thăm. Còn trong trận tranh giải hạng 3 nếu hai đội hòa sẽ tiến hành đá luân lưu 11 mét ngay mà không cần thêm 2 hiệp phụ 2 trận bán kết và trận chung kết nếu hai đội hòa sau 90 phút giao tranh sẽ đá thêm 2 hiệp phụ và áp dụng luật bàn thắng vàng, trận đấu được dừng sau bàn thắng được ghi.
Hàng năm vào dịp Quốc Khánh, Nhà nước ta đều có đợt đặc xá tha tù cho một số phạm nhân. Năm nay…?
Nguyễn Văn Long (Thanh Hóa)
Nhiều hơn mọi năm! Ngày 28/8/98, Chủ tịch nước đã ký Quyết định 168/QĐ/CT đặc xá tha trước thời hạn cho 5.166 phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam và Quyết định số 169/QĐ/CTN miễn chấp hành hình phạt tù cho 53 phạm nhân thuộc diện tạm đình chỉ thi hành án.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nguyên nhân gây chết sớm của 3,5 triệu người Nga

So với những năm đầu của công cuộc cải tổ ở Liên Xô, 1986 – 1987, thì tỷ lệ chết ở Nga trong những năm 1992 – 1994 tăng 1,5 lần và đạt con số 15,7 trường hợp trong 1.000 dân. Gần đây, trong những năm 1995 – 1996, kể cả những tổn thất về người trong cuộc chiến ở Chê – sni – a, tỷ lệ chết vẫn như vậy. Có ý kiến cho rằng phải tìm nguyên nhân ở sự già đi của dân cư vào đầu những năm 90. Trên thực tế, chỉ có 1/10 số người chết là do già còn 9/10 thì lại do những nguyên nhân khác. Ở Nga, số người chết lại xảy ra khá nhiều ở độ tuổi lao động, nhất là tuổi từ 30 đến 49! Trong khi sự gia tăng tỷ lệ chết ở nhóm tuổi cao hơn thì lại thấp hơn.
Từ năm 1992 đến năm 1997, số người chết sớm ở Nga là 3,5 triệu người, trong đó số tử vong của nam cao gấp 2 lần số tử vong của nữ, điều đó chứng tỏ sự xuất hiện những yếu tố bệnh tật đặc thù có tác động rất mạnh đến đàn ông. Trong cơ cấu tỷ lệ tử vong tăng thì gần 2/3 đều do các bệnh không truyền nhiễm, nhất là bệnh tim mạch.
Thế thì những nguyên nhân thật cụ thể của sự chết sớm ấy là gì?
Trước hết, đó là sự nghèo khổ của nhân dân Nga. Ngay từ đầu công cuộc cải tổ, phúc lợi vật chất của đại đa số người Nga đã giảm đi rõ rệt xuống tầm những năm 60. Giờ đây, tính theo thu nhập bình quân đầu người, nước Nga ở cùng hàng với các nước có thu nhập còn thấp như Mê – hi – cô, Bra – xin, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Trung Quốc, Mông Cổ, Cu Ba, Chi – Lê, Vê – nê – zu – ê – la, … mà ở những nước này vào những năm 90, tỷ lệ chết thấp hơn 2 lần so với nhiều nước giàu có (Cộng hòa liên bang Đức, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Anh…). Mức sống thấp đâu phải là nguyên nhân “chết nhiều” như ở Nga.
Hai là, trong 10 năm qua, Người Nga sử dụng thịt, sữa, trứng giảm 1/3 do đó hàm lượng cholesterol trong máu giảm. Rõ ràng không phải vì trong thực phẩm của người dân Nga quá dư thừa chất cholesterol – một phần nhân tố sinh học có liên quan đến tử vong.
Ba là, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tử vong là nạn hút thuốc. Trong những năm cải tổ, ở Nga đã giảm cơ bản việc sản xuất thuốc lá trong nước. Thuốc nhập không đáng kể. Trong thời kỳ này, thói quen hút thuốc lá của người Nga đã giảm hẳn. Do đó, cũng không phải tệ nghiệm hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ chết trong các năm đó.
Bốn là, ai cũng biết việc ăn uống dư thừa sinh ra bệnh béo phì. Nhưng từ khi bắt đầu cải tổ, lượng calo do ăn uống của người Nga cũng như các chỉ số của khối lượng cơ thể của họ đều giảm.
Năm là, người Nga một mặt phải tăng cường hoạt động và vận động. Nhiều công dân phải làm 2 – 3 việc mới đủ sống do đó mà phải tăng cường chạy “đi lại”. Đã xuất hiện cả một đội quân đông đảo nhiều triệu người, chuyên chạy hàng ngoại tuồn vào trong nước. Mặt khác, tình hình môi trường sinh thái nói chung ở nước Nga có khá hơn do sự suy thoái kép của sản xuất công nghiệp. Các nhà máy, công xưởng, trong đó có ngành sản xuất phân bón, hóa chất đóng của hàng loạt hoặc hoạt động thoi thóp.
Sau cùng, nạn nghiện rượu cùng chỉ chiếm 6% tỷ lệ tử vong chung.
Tóm lại, từng nguyên nhân hoặc tổng hợp các nguyên nhân nói trên đều không giải thích được đầy đủ nguồn gốc nhiều căn bệnh ở nước Nga hiện nay, nhất là bệnh tim mạch. Stress Nga phải gọi đúng là stress kép – hậu quả của những tác động quá tải từ bên ngoài, nguyên nhân sâu xa từ những dích dắc trong vị trí kinh tế – xã hội của đại bộ phận dân cư của nước Nga và cả nhân tố tâm lý xã hội đã tác động rất lớn đến sức khỏe của nhân dân.
Vũ Kim Ngân – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em

Trong 20 năm qua, kể từ khi nước ta trở thành thành viên của Liên hiệp quốc, Liên hiệp quốc đã hợp tác và giúp đỡ nước ta trong nhiều lĩnh vực. Sự giúp đỡ quý báu và hiệu quả của Liên hiệp quốc đã và đang đóng góp tích cực vào những thành tựu của đất nước trong thời gian qua đặc biệt trong 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Trong số 15 tổ chức của Liên hiệp quốc đang hoạt động ở nước ta thì Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) là một tổ chức lớn thứ hai – sau chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đã hoạt động ở nước ta từ năm 1977 và ngày càng có hiệu quả.
Tại thời điểm năm 1978, UNFPA là tổ chức tài trợ chủ yếu cho lĩnh vực Dân số – Kế hoạch hóa gia đình ở nước ta. Hoạt động của UNFPA lúc này ưu tiên đáp ứng các nhu cầu về thông tin – giáo dục – truyền thông, thu nhập số liệu, xây dựng năng lực phục vụ cho các mục tiêu và chiến lược dân số quốc gia. Qua 4 chu kỳ tổng ngân sách UNFPA tài trợ các lĩnh vực: cung ứng dịch vụ tránh thai, trang thiết bị cho công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, hỗ trợ cho kỹ thuật và đào tạo cán bộ đến hết năm 1996 là 87 triệu USD. Ở ba chu kỳ đầu tiên (1978- 1991), chủ yếu UNFPA hỗ trợ cung ứng các phương tiện và dịch vụ cho công tác Kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đặc biệt, ở chu kỳ 3 (1988- 1991) UNFPA đã tài trợ cho nước ta 22 triệu USD- một khoản ngân sách lớn, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ (là hai nước có dân số đông nhất nhì thế giới).
Từ sau Hội nghị dân số thế giới Cairo 1994, chu kỳ thứ tư (1992- 1996). UNFPA đã chuyển từ định hướng theo mục tiêu sang định hướng theo nhu cầu, từ tập trung chủ yếu vào hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đã hướng vào một chương trình sức khỏe sinh sản toàn diện theo một khái niệm đầy đủ là “trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống, chức năng và quá trình sinh sản, chứ không phải là không bị bệnh tật”. Đặc biệt trong chu kỳ 5 (1997- 2000), với tổng ngân sách 24 triệu USD UNFPA tập trung vào 3 lĩnh vực chính: sức khỏe sinh sản (71% tổng số ngân sách), chiến lược dân số và phát triển (14%) và tuyên truyền vận động (15%). Ở thời kỳ này, ngoài ngân sách của UNFPA, Chương trình quốc gia về Dân số – Kế hoạch hóa gia đình đã nhận được các nguồn hỗ trợ lớn của các nhà tài trợ khác thông qua vai trò xúc tác hợp tác giữa Chính phủ với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực dân số của UNFPA và một nguồn tài chính đáng kể từ nguồn ngân sách Nhà nước.Sự trợ giúp của UNFPA chủ yếu để hỗ trợ về kỹ thuật và chính sách, tiếp tục củng cố những thành quả đã đạt được, xây dựng và tăng cường năng lực quốc gia trong việc điều hành và thực hiện các chương trình và các dự án, tiếp tục lồng ghép các dịch vụ sức khỏe sinh sản vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, bảo đảm được chất lượng và đến được các đối tượng đặc biệt, những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Sự hợp tác nước ta với UNFPA trong Chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình đã đem lại những hiệu quả thiết thực. Trong thành quả làm giảm tổng tỷ suất sinh từ 4,3 và giảm tỷ lệ tăng dân số từ 2,16% năm 1978- thời điểm UNFPA bắt đầu hoạt động tài trợ cho công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, xuống mức 2,7 (tức giảm 1,6) và 1,8% (tức giảm 0,36%) như hiện nay phải nói đến sự đóng góp hết sức quan trọng của UNFPA cho mục tiêu dân số của nước ta.
Những kinh nghiệm và các bài học qua sự hợp tác này trong suốt 20 năm qua thực sự là nền tảng vững chắc cho sự trợ giúp tiếp tục của UNFPA vì sự ổn định quy mô dân số nước ta ở mức 120- 125 triệu người vào giữa thế kỷ tới.
Bạch Thông – Báo Sức Khỏe & Đời Sống –  1997