Người hộ sinh (bà đỡ) và sức khỏe phụ nữ (Phần 2)

Sự chăm sóc này bao gồm các biện pháp dự phòng, nhằm phát hiện những bất thường ở người mẹ và đứa trẻ, tìm kiếm các hỗ trợ y tế và thực hiện các biện pháp cấp cứu khi không có y tế cấp cứu. Nữ hộ sinh có chức năng quan trọng trong tham vấn và giáo dục sức khỏe không chỉ cho người phụ nữ mà cho cả gia đình và cộng đồng. Công việc của người hộ sinh phải bao gồm cả huấn luyện chuẩn bị cho việc làm bố, mẹ ngay từ khi đứa trẻ chưa ra đời và mở rộng thêm đến một số lĩnh vực khác của phụ khoa, kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc trẻ em. Người hộ sinh có thể làm việc ở bệnh viện, phòng khám, đơn vị y tế, tại nhà hay trong các loại hình dịch vụ khác.
Khái niệm người hộ sinh là một người cán bộ y tế thực hành độc lập cả về thẩm quyền và trách nhiệm của họ là rất quý trong phạm vi nghề nghiệp nhưng đến nay chưa được thực hiện đầy đủ. Người nữ hộ sinh có thể chẩn đoán thai nghén, có quyền cho các thuốc không phải kê đơn, nhất là trong lúc chuyển dạ và trong thời kỳ sau đẻ và bà ta phải chịu trách nhiệm trong việc chăm sóc toàn bộ thời kỳ sinh nở của người phụ nữ trong phạm vi thai nghén không có biến chứng. Bà đỡ có quyền gọi y tế cấp cứu khi cần thiết và khi chưa có bác sĩ, bà đỡ phải tiến hành các biện pháp cấp cứu.
Trên thế giới, nơi nào cũng có trường đào tạo nữ hộ sinh. Nữ hộ sinh có thể có bằng cử nhân, thạc sĩ; và nếu có những công trình nghiên cứu khoa học, họ có thể giành học vị tiến sĩ khoa học (PhD).
Ở nước ta, do nhiều nguyên nhân, trong thập kỷ trước, việc đào tạo nữ hộ sinh ở nhiều tỉnh đã bị thay thế bằng việc đào tạo y sĩ sản nhi 3 năm, chương trình học chỉ có 6 tháng cho sản khoa. Có lẽ do chưa đánh giá đúng mức vai trò của bà đỡ, của nữ hộ sinh và và vẫn chỉ coi một cuộc đẻ, sự ra đời của con người như là một hiện tượng y sinh học. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các viện hay bệnh viện lớn. Công tác tâm lý tìm hiểu nhu cầu tình cảm, gia đình và tạo bầu không khí bình thường lành mạnh cho các bà mẹ trở dạ đẻ còn quá ít. Phụ nữ chuyển dạ đẻ bị cô lập trong môi trường y tế, không cho gia đình và bạn bè, cha mẹ và chồng con vào trực tiếp chăm nom, chăm sóc đã tạo ra một môi trường trống vắng, cô đơn cho người trở dạ đẻ.
GS. Đỗ Trọng Hiếu – Sức khỏe & đời sống – Số 9 (717) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Người hộ sinh (bà đỡ) và sức khỏe phụ nữ (Phần 1)

Số mệnh của bất cứ một người phụ nữ nào trong thời kỳ sinh đẻ cũng lệ thuộc rất lớn vào một người khác, người đó chính là chị hộ sinh hay bà đỡ. Người đỡ đẻ khéo hay vụng còn ảnh hưởng đến cả cuộc đời của đứa bé sắp ra đời. Nếu chẳng may nó ngạt, phải cấp cứu lâu, sau này bị đần độn, động kinh thì nó sẽ là nỗi bất hạnh mãi mãi của cả gia đình. Tài năng của bà đỡ là sự tổng hòa của nghệ thuật và khoa học để đón đỡ một con người ra đời một cách hoàn hảo.
Nghệ thuật về nghề đỡ đẻ đòi hỏi người hộ sinh phải có khả năng hiểu được nhu cầu của người đang trở dạ đẻ, biết cách động viên khuyến khích người mẹ tương lai, xây dựng được lòng tin và khéo léo trong từng động tác, từng giai đoạn chuyển dạ để có thể đạt được một cuộc sinh nở mức an toàn. Bà đỡ cần phải biết khoa học về sinh sản ở mức độ cao để có những quyết định nhanh chóng và chính xác khi cần thiết.
Sinh đẻ là hiện tượng thông thường của mỗi sinh vật, cuộc đẻ của con người cũng vậy. Bà đỡ cần phải biết tránh can thiệp vào cuộc đẻ nếu mọi giai đoạn đều diễn ra bình thường, nhưng lại phải biết săn sóc, giúp đỡ đúng lúc, có khi liên tục khi cuộc đẻ dự kiến là có khó khăn.
Bà đỡ không được phép coi các dịch vụ săn sóc người đẻ chỉ là các dịch vụ y sinh học đơn thuần mà phải coi đó là một hiện tượng xã hội: sự ra đời của một con người, sự ra đời của một công dân. Đối với một gia đình, một đứa con ra đời làm thay đổi toàn bộ bộ mặt và sinh hoạt của gia đình đó. Niềm vui và hạnh phúc của một gia đình từ khi xây dựng (kết hôn) bắt đầu mạnh lên rất nhiều khi có đứa con ra đời, nó đánh dấu một chặng đường phát triển của gia đình. Bà đỡ có vai trò quan trọng biết mấy, nếu sơ ý để đứa trẻ ra đời yếu đuối, ốm yếu. Vậy người hộ sinh hay bà đỡ là gì? Tiêu chuẩn của họ thế nào? Theo định nghĩa mới nhất do Hộ nữ hộ sinh quốc tế đưa ra ở Kobe năm 1990, sau đó một năm (1991) được Hội sản phụ khoa đồng ý và một năm sau nữa (1992) Tổ chức y tế cũng tán thành thì người hộ sinh là người đã theo một khóa học hộ sinh thường quy và được công nhận ở nước mình là một người đã hoàn tất tốt đẹp khóa học đó và đã đạt được những phẩm chất cần thiết để được ghi nhận chính thức được hành nghề hộ sinh. Người hộ sinh phải cung cấp được những chăm sóc, tư vấn và giám sát cần thiết cho người phụ nữ khi có thai, khi đẻ và sau đẻ, tiến hành đỡ đẻ bằng trách nhiệm của mình và chăm sóc đứa trẻ mới đẻ trong thời kỳ sơ sinh (1 năm).
GS. Đỗ Trọng Hiếu – Sức khỏe & đời sống – Số 9 (717) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Tư vấn chọn nghề

Nhờ trời, từ ngày tôi mở Dịch vụ tư vấn công ăn việc làm cũng kiếm được. Mỗi giờ tiếp khách, nói toạc ra là bày mưu mẹo cũng lẩm gọn hai chục, kẻ hoắng lên ấn hẳn tờ năm mươi, vì “bác cho cái nghề nuôi sống cả đời, chỗ ấy đáng gì”. Cũng nói rõ, khách toàn bọn trai gái trẻ. Đặc biệt mãi đến hôm vừa rồi mới có một vị cứng tuổi đến “xin ý kiến” nên phải dài dòng văn tự. Thủ tục chỗ cơ sở tôi đơn giản, ấm cúng kiểu gia đình : chủ khách chào nhau, mời thuốc nước, khách nhận tờ phô tô khoảng mười câu hỏi, lấy bút điền vào chỗ trống. Ông móc ví, lựa năm tờ mười nghìn vuốt thẳng đặt vào đĩa, khẩn khoản : “Dạ thưa, nói ông bỏ lỗi, tôi từng ăn mòn bát, mòn đũa, thiên hạ, khổ nỗi đứng tuổi ký Sửu lại đẻ vào giờ Thìn nên suốt đời cày thật lực vẫn thiếu. Nghe người ta mách ông là người cao kiến, tôi phải đánh đường đến thỉnh đấy ạ !” Mắt nhìn năm tờ bạc màu hồng lại thêm mấy lời tâng bóc ngọt tai, trí khôn lóe ra ngay, tôi hỏi : “Khoản chữ Hán giờ còn khá không ?” Trả lời : “Bẩm, cứ thưa thực, mười chữ cũng chỉ vọc vạch hai ba”. Tôi châm thuốc rồi quyết định thuyết giáo : “Bác nghe kỹ đây ! Người ta trên đời này sở dĩ thành đạt là do biết khai thác tiềm năng sở trường của bản thân. Nói dễ hiểu, nế trời phú cho bác tốt giọng thì chỉ việc đi hát cũng hái ra tiền ; còn như bác giỏi đá bóng tức khắc có người đến tận nhà mới bác đến chỗ chỉ ăn rồi đá bóng, lại nuôi cả nhà phong lưu. Nhưng trong cuộc sống có hàng nghìn kiểu tài, tỷ như lừa đảo cũng là một thứ tài. Tôi đố bác dám giật nóng ai nổi triệu, thế mà khối người lừa cả Nhà nước, lừa cả quốc tế, nuốt hàng trăm tỷ như bỡn, nhưng xem ra cũng chả thọ bao lâu, báo đăng nhan nhản, chả nhớ xử tử vụ nào chưa, còn chung thân với vài chục năm thì đầy…”
Tợp xong ngụm nước, tôi nói tiếp : Nhìn tờ khai và qua trao đổi, thấy bác cũng ít năng lực, nhưng tôi nói thật, cái dúm chữ Nho ấy là vốn tư có ban đầu của bác, đúng không nào, vậy phải biết phát huy nó lên. Hiện có hai nghề vừa dễ kiếm tiền vừa nhàn hạ là làm thầy cũng và thầy bói, bác phải tin một điều là không đâu dễ moi tiền như ở nước ta. Bác biết sao không, vì ít năm nay đời sống thoải mái, lớp trẻ được bố mẹ lo ăn học mong kiếm mảnh bằng, vào đâu cũng dễ, dân chúng thì chỉ chúi mũi xoay đủ cách làm giàu. Thế nhưng, vô khối cô cậu sinh viên dính thi là trượt, cách làm ăn buôn bán lại quen nết mèo nhỏ bắt chuột to, dẫn đến thua lỗ ; bạn cờ bạc chưa ngồi ấm chiếu đã bị thẳng trường lưng vặt trụi ; quân đập hộp, nhảy xe, buôn lậu, hàng chưa kịp tiêu đã bị công an sờ gáy ; ổ chứa điểm, tiêm chích, đâm thuê chém mướn ; cán bộ thoái hóa, tham nhũng, hối lộ lũ lượt theo nhau vào trại ; hoặc giả nhà có người đeo bệnh, nghe đồn ngôn ông lang Cột, bà lang Kèo giỏi ngang Hoa Đà, Biến Thước, vét nhẵn gia tài để bốc thuốc, thuốc thì còn đó, người đã… kèn trống tiễn đi… Tất cả những hạng người này đều đinh ninh gặp vận túng cơn đen chẳng qua do thần linh hậu thổ trừng phạt, thế nào chả phải lặn lội tìm thầy cúng”.
Được lời như cởi tấm lòng, ông khách vui ra mặt, nhích ghế, nói chen vào : “Nghe ông dạy, nhà em mới vỡ vạc ra, không thì cứ u mê”. Tôi ngắt lời : “Khoan! Đã tư vấn lấy đồng tiền là phải cho cặn kẽ. Bác ra sạp sách mua lấy quyển “Những bài cúng sao giải hạn – Tử vi tam tông miếu” bằng quốc ngữ, cố mà đọc. Nhưng khi hành nghề, nhất thiết phải đem theo quyển sách Nho, bên trong viết gì không quan tâm. Lúc cầu kinh, chỗ nào thuộc cứ việc rành rọt, đoạn quên thì… nhỏ giọng ê a, chiêng mõ khua át đi, hết nhang xin mời gắp tót túy lúy, lúc về chủ tiễn phong bì, túi lộc thánh đúng là “được ăn được nói được gói mang về”.
Cúng rồi mà thi vẫn trượt, cờ bạc vẫn thua, đánh quả vẫn bị tóm… lúc này mới cuống lên tìm thầy bói, thầy tướng. Nếu làm nghề ấy lại phải ra quán sách mua ngay cuốn “Tử vi tướng pháp” của GS Bửu Sơn nào đó, nằm nghiền ít hôm. Cốt yếu vẫn do mình phải tinh ý, trong lúc hỏi tên tuổi, nghề nghiệp, quan hệ nọ kia cần tranh thủ quan sát diện mạo để bắt hình dong… Đấy rồi xem, cũng chỉ quanh quẩn một tuồng vợ lo chồng theo gái, chồng nghi vợ ăn nằm với giai, chết bạc, vỡ hụi, thua đề, tù đày, kiện tụng, lừa đảo… Người sáng dạ thoắt trông là biết trên mười câu cũng phải trúng năm, chẳng may mai trật khéo chống chế, át đi”.
Ông khách nghe đến đấy, mặt mũi phổng phao, tươi hớn hở đứng lên, hai ba lần thấp đầu chào rất cung kính. Tôi giữ lại, dặn nhỏ : “Ông nhà nước đang làm mạn cái “Tám bảy xê pê” nên tôi không dám khuếch trương. Bác có mách bảo ai cũng xin cẩn thận hộ nhá!” Ông ta vâng dạ, vẫy xe ôm, vọt đi.
Trần Xuân – Sức khỏe & đời sống – Số 8 (716) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Cuộc thi ở tầm cao

Trong các môn thể thao, 3 nội dung bóng rổ, bơi lội và bóng chuyền vẫn được xem là những môn có tác dụng nhất với việc tăng chiều cao và thể lực của con người. Nói rộng hơn, ở những quốc gia đang phát triển, bên cạnh một chiến lược chung của thể dục thể thao, người ta luôn có những chủ ý đúng mức vào những nội dung tác dụng cải thiện tầm cao và thể lực cho cả dân tộc và nòi giống. Còn ở ta, đáng mừng là từ năm 1997, bóng rổ đã được đưa vào chính khóa, bơi lội tuy chưa đạt được thành tích khu vực nhưng hàng loạt chương trình mục tiêu được hoạch định và có triển vọng trở thành hiện thực, còn bóng chuyền vẫn luôn đứng hàng đầu trong danh sách những môn có nhiều giải quốc gia, trong đó giải Grand Prix là một cuộc chơi lý thú.
4 đội nam Bưu điện Hà Nội (BĐHN), Bưu điện TP. HCM (BĐTP), Công an TP.HCM (CATPHCM) và Quân đoàn 4 (QD94) cùng 4 đội nữ Bộ tư lệnh Thông tin (BTLTT), Bưu điện Hà Nội, Dệt Long An (DLA) và Hải Dương đã vào cuộc từ ngày 7 – 3 và kết thúc vòng II vào ngày 27 – 3 tại Đà Nẵng. Đây là cuộc thi ở tầm cao và tập trung những người cao nhất của thể thao và bóng chuyền
Ở bảng nam, các cầu thủ Nguyễn Đình Khôi (CATPHCM), Nguyễn Hùng Mạnh (BĐHN), Nguyễn Hòa Phương (BĐTP) đều có chiều cao 1m90, nghĩa là cao nhất so với mọi thành viên thành viên của đoàn TTVN ở các SEA Games trước, và có lẽ ở các Asiad 98 sắp tới. Thấp hơn một vài phân là một danh sách khá dài các gương mặt Chiến Thắng, Sĩ Hòa, Văn Trọng của BĐHN; Huy Diễn, Văn Sơn của CATPHCM; Văn Thành, Nguyễn Thắng của QD94 và Văn Hòa, Tân Khoa, Đức Bảo của BĐTP.
Bảng nữ, với chiều cao 1m76, 3 chủ công Hà Thu Dậu (DB9HN), Nguyễn Thị Lộ (DLA) và Nguyễn Thị Nhâm (BTLTT) đang là những người cao nhất của đội tuyển quốc gia. Tuy thế, có chiều cao hơn lại là Trần Thị Bình của Hải Dương, mới 19 tuổi đã cao 1m78. Các chuyên gia ở lĩnh vực này cho biết, chiều cao bình quân của đội tuyển nam của ta là 1m82, thuộc loại khá trong khu vực, chiều cao đội nữ là 1m72, cũng ở loại trên trung bình. Và nhìn chung, qua chiếc “lăng kính” bóng chuyền, các nhà nhân chủng học đã thấy ra một thực tế là chiều cao quân bình của người Việt Nam đã có bước tăng lên so với trước, mà một trong các nguyên nhân là do thể dục thể thao. Còn tầm cao về chuyên môn?
Người ta dễ dàng thấy 2 đội Hải Dương và QĐ4 khó có tham vọng vươn lên ở giải Grand Prix 98. Họ không có lực. Còn 6 đội kia, nhìn chung là tương đương về khả năng nhưng trong thâm tâm, người viết đặt niềm tin nơi CATPHCM và BTLTT. Bản lĩnh và thực lực cho phép các chủ nhân cũ bảo vệ chiếc cúp của họ.
Kim Anh – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 11 (772) – 1998

Vận dụng nghị quyết TW 4 (Khóa VIII) vào công tác của ngành y tế – Phần 3

Để phát huy dân chủ, lãnh đạo Bộ, Thanh tra công nhân viên chức, Thường vụ Công Đoàn, Đoàn Thanh niên cơ quan Bộ phải thường xuyên bàn bạc, thống nhất chủ trương, cùng chịu trách nhiệm và có các biện pháp thực thi cụ thể theo chức trách của mình.
Năm là, Sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước
Ngành y tế cần sắp xếp lại Tổng công ty dược, Tổng công ty thiết bị y tế và các công ty thành viên theo đúng quy định doanh nghiệp Nhà nước. Cần xem xét, có nên cho thành lập các Tổng công ty của các thành phố lớn hay không ? Cũng cần xem xét vấn đề xí nghiệp công ích và các phân xưởng công ích trong các xí nghiệp. Việc tổ chức lại sẽ tập trung đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phục vụ tốt việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, thực hiện chính sách quốc gia về thuốc.
Tuy không gọi là doanh nghiệp Nhà nước, nhưng phần dịch vụ y tế của các cơ sở khám chữa bệnh công của Bộ Y tế và của các ngành phải được quản lý chặt chẽ, và cũng cần sắp xếp lại cho hợp lý. Vấn đề thực hiện quy chế, chức trách ở các bệnh viện công, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh; vấn đề tự hạch toán, quản lý hành nghề y được tư nhân, thành lập các Hội nghề nghiệp để giúp Bộ Y tế tham gia quản lý hành nghề y dược tư nhân… là những vấn đề cần phải suy nghĩ trong sắp xếp và quản lý các mặt đa dạng của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Sáu là, Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người có công với nước
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, ngành y tế chăm sóc sức khỏe cho như thế nào? Chúng ta sẽ giải quyết những vướng mắc trong vấn đề khám chữa bệnh cho người nghèo, người có công với nước ra sao ? Viện phí cho người nghèo, người có công với nước như thế nào ? Rồi vấn đề hành vi, thái độ của cán bộ, nhân viên ngành y tế đối với nhân dân nói chung, đối với người nghèo, người có công với nước như thế nào, vấn đề y đức của cán bộ y tế ? Đó thật sự là những vấn đề đặt ra cho ngành y tế phải suy nghĩ, để vận dụng Nghị quyết Trung ương 4 vào ngành y tế, trước hết chúng ta phải xác định nguồn lực, khẳng định động lực chủ yếu của nguồn lực, phải cần kiệm trong hoạt động hàng ngày, phải phát huy dân chủ, phải sắp xếp lại tổ chức và góp phần tích cực trong chương trình xóa đói giảm nghèo, quan tâm đến y tế cơ sở, đến các đối tượng ưu tiên mà trước hết là người nghèo, người có công với nước. Có như vậy, chúng ta mới thực sự đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và hoạt động của ngành.
Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 7 (768) – Năm thứ 37 – 1998

Vận dụng nghị quyết TW 4 (Khóa VIII) vào công tác của ngành y tế – Phần 2

Như vậy, vấn đề kê đơn hợp lý, chống lạm dụng thuốc, chống cho xét nghiệm tràn lan, chống lạm dụng kỹ thuật cao; vấn đề dùng thuốc nội địa để giảm bớt chi phí tiền bao bì, quảng cáo, … là rất cần thiết trong ngành y tế. Rõ ràng, vấn đề tiết kiệm trong ngành y tế phải bắt đầu từ người bác sĩ, người bác sĩ sẽ giáo dục cho bệnh nhân. Hiện nay, vấn đề bệnh nhân xin thuốc bừa bãi, bác sĩ chiều lòng bệnh nhân làm tốn tiền công quỹ của Nhà nước hay tiền của của người bệnh, là vấn đề cần phải xem xét và giải quyết.
Vấn đề kiểm kê, kiểm soát, công khai hóa cần được đặt ra để thực hiện tiết kiệm. Nhà nước sẽ có pháp lệnh về tiết kiệm. Ngành y tế cần phải vận dụng vào việc hàng ngày để thực hiện Pháp lệnh.
Ba là, Khẳng định động lực chủ yếu để khơi dậy nội lực và thúc đẩy sự phát triển của ngành
Động lực đó là sự đổi mới đúng hướng, toàn diện, đồng bộ trong ngành y tế. Đổi mới toàn diện, đồng bộ dựa trên quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là đối với người nghèo, người có công với nước. Kiên trì chăm lo cho y tế cơ sở.
Sắp tới, Bộ Y tế sẽ có những nghiên cứu, đề xuất những cơ chế, chính sách đối với y tế cơ bản, đặc biệt là y tế thôn bản. Vừa qua, Chính phủ đã có Nghị định số 01/CP ngày 06/01/1998 về Tổ chức y tế địa phương thay thế Nghị quyết 15/CP của Chính phủ ban hàng năm 1975. Vấn đề cơ bản của y tế cơ sở là y tế thôn bản và y tế xã. Hiện nay, mạng lưới y tế xã đã và đang được củng cố, nhưng còn y tế thôn bản, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt lại chưa được quan tâm đúng mức. Muốn đổi mới đúng hướng, toàn diện, đồng bộ không thể không quan tâm tới y tế cơ sở.
Bốn là, Xây dựng và thực hiện các thiết chế dân chủ
Ngành y tế phải xây dựng và vận dụng các thiết chế, quy chế dân chủ. Quy chế và thiết chế dân chủ sẽ giúp ngành y tế đoàn kết, nhất trí, nâng cao năng lực nội sinh. Quy chế và thiết chế dân chủ trong các cơ quan, trường Y dược, bệnh viện,… phải được xây dựng một cách dân chủ và làm theo hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, xây dựng quy chế, thiết chế dân chủ, phải tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính. Nói đến dân chủ phải nói đến vấn đề tiếp dân, giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, của bệnh nhân. Bộ Y tế sẽ phải bàn thêm về vấn đề tiếp dân, vấn đề trả lời thư, đơn phản ảnh, khiếu tố của nhân dân. Phải có cơ chế để lãnh đạo Bộ có thể thường xuyên gặp gỡ, tiếp cận, với các chuyên viên. Lãnh đạo Bộ và lãnh đạo các Vụ, Cục, Văn phòng và Thanh tra Bộ phải công khai hóa các khoản chi tiêu, những vấn đề về nội bộ, từ đường lối, quan điểm, chủ trương,… đến ngân sách, chi tiêu,… Như vậy, phải thực hiện cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 7 (768) – Năm thứ 37 – 1998

Vận dụng nghị quyết TW 4 (Khóa VIII) vào công tác của ngành y tế – Phần 1

LST : Trung tuần tháng 1 năm 1998, đồng chí Đỗ Nguyễn Phương, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế đã truyền đạt Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII), và nêu một số việc mà ngành y tế cần vận dụng vào công tác của ngành cho cán bộ, công chức của Cơ quan Bộ Y tế và một số đơn vị trực thuộc Bộ. Báo Sức khỏe & Đời sống xin đăng bản lược ghi bài nói của Đ/C Bộ trưởng để bạn đọc trong và ngoài ngành tham khảo.
Để vận dụng Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa VIII) vào công tác của ngành y tế, chúng ta cần phải làm một số việc sau đây :
Một là, Phải xác định nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển
Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ rõ phải phát huy nội lực để phát triển đất nước. Nội lực ở đây là phải hiểu là tất cả các nguồn lực hiện có trong nước, bao gồm không chỉ những tài nguyên mà lợi thế về địa lý, kinh tế, chính trị, nguồn lực của các địa phương, những vị thế của địa phương mình, ngành mình. Một khía cạnh quan trọng khác của nguồn lực là con người, cụ thể là lao động, cả lao động tay chân và lao động trí óc.
Với ngành y tế thì ngoài vốn, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn có một nguồn lực quan trọng khác là hơn hai mươi vạn cán bộ y tế, trong đó trên 2 vạn do Trung ương quản lý, chưa kể số cán bộ làm công tác y tế trong quân đội. Sự kết hợp quân dân y đã và sẽ tạo ra nguồn sức mạnh về trí tuệ. Cần giải phóng nguồn nhân lực để phát huy thêm nội lực.
Phát huy nội lực nhưng không được coi nhẹ nguồn viện trợ từ bên ngoài, bao gồm cả vốn, công nghệ , trang thiết bị cũng như chuyên gia hoạt động cho ngành. Để vận dụng Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng vào ngành y tế, lãnh đạo của Bộ Y tế đã tổ chức lại khu vực các dự án viện trợ, đầu tư vốn vay để thành lập một Ban quản lý dự án của Bộ Y tế, nhằm tập trung các nguồn lực phục vụ các mục tiêu chiến lược của ngành. Tóm lại, nội lực góp phần rất quan trọng để phát triển ngành.
Hai là, Thực hiện cần kiệm, chống tham ô, lãng phí trong ngành y tế
Cần kiệm, chống tham ô, lãng phí phải được thực hiện trong chi tiêu ngân sách, trong sử dụng hợp lý, sử dụng có hiệu quả ngân sách, kinh phí, các nguồn vốn cả trong và ngoài nước, bao gồm cả việc chi phí điện, nước, ô tô, điện thoại, fax, văn phòng phẩm, v.v…
Cần kiệm, chống tham ô, lãng phí trong ngành y tế còn phải kể đến việc kê đơn điều trị, khuyến khích dùng thuốc sản xuất trong nước, chống lạm dụng kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị. Để chiều lòng bệnh nhân, để được khen là thầy thuốc “cao tay”, người bác sĩ dễ cho làm tất cả các xét nghiệm, cho chụp X quang, chụp cắt lớp, làm cộng hưởng từ… khi không thật cần thiết. Giá của mỗi lần chụp cắt lớp là 500.000đ – 600.000đ ở miền Bắc, 1 triệu đến 1,2 triệu ở miền Nam; một lần làm cộng hưởng từ tốn 2 – 3 triệu đồng.
Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 7 (768) – Năm thứ 37 – 1998

Phim ở rạp, đến bao giờ…?

Một thời, bao nhiêu là phim hay đến nỗi ở đô thị, quần loe tóc dài có vẻ cũng không được vào rạp. Ở nông thôn bữa nào sân vận động hay sân kho chôn hai cây tre là ở đó có hội khiến trẻ con, người già thông báo, giục giã nhau ăn cơm sớm để xem chiếu bóng. Phim ngoại chủ yếu là hai nước bạn Liên Xô (cũ) và Trung Quốc được trình chiếu cũng cân đối lắm với danh mục phim còn ít ỏi của ta. Đấy là thời bao cấp! Khi xóa bao cấp để hạch toán theo kiểu kinh tế thị trường thì ngược lại, video nước ngoài hùng hổ tấn công và chiếm lĩnh các rạp. Phim nhựa có lúc chào thua, kể cả phim nhựa của nước ngoài chứ chả riêng gì phim quốc doanh trong nước. Tư nhân cũng xăng xái làm phim (tất nhiên núp sau hãng này, hãng nọ của nhà nước) nhưng theo ngạch video để tiết kiệm thời gian, tiền bạc, lại có thể thu hồi vốn nhanh. Vì thế đã xuất hiện rất nhiều tác giả, đạo diễn, diễn viên điện ảnh chẳng cần qua trường lớp miễn là có vốn bỏ ra để làm phim hoặc dung nhan ăn khách qua các kỳ trình diễn hoa hậu, trình diễn thời trang. Nội dung tất nhiên là những cuộc tình tay ba, những pha đấu chưởng ly kỳ với những cảnh quay rất chi là giàu có như gia đình cán bộ cũng có biệt thự và con cái có thể chơi ở Vũng Tàu, Đà Lạt tùy thích. Năm nay, phim tư nhân dù là video cũng ngoắc ngoải. Khán giả ưa anh “ Văn nghệ chủ nhật” của truyền hình hơn vì xem miễn phí (không tính phí tổn trả cho bác nhà đèn, mà tiền điện đáng là bao) lại thấy chuyện người trong phim cũng gần gần với mình chứ không phải là phim ta nhái đề tài của Đài Loan, Hồng Kong. Truyền hình TƯ, truyền hình thành phố cũng thừa phim phục vụ như Tể tương Lưu Gù, Xứng danh anh hùng, Thanh tra Đerich… thì tội gì đến rạp cho tốn kém lại ngộ nhỡ gặp côn đồ, đua xe, cho rách việc. Điện ảnh quốc gia đang nắm cơ hội trong tay liệu có thể có phim hay cho dân nườm nượp đến rạp khi phim truyền hình chỉ là giải pháp tình thế, khi mà một nền nghệ thuật điện ảnh đích thực phải là phim nhựa, khi mà Nhà nước đã có tài trợ đáng kể cho các Hãng, Xưởng phim quốc doanh. Tất nhiên, những kỳ liên hoan trong nước và quốc tế, ta đều có phim được giải. Đó là phim hay nhưng còn phim hay được công chúng vồ vập? Hay là cứ giải thích rằng phim của ta hay, tư tưởng sâu sắc nhưng thị hiếu khán giả kém là đủ. Khán giả chẳng phải là ông Nguyễn, ông Trần nào cụ thể nên chắc chắn không bao giờ bị kiện… xem ra cách giải thích này còn tồn tại dài dài. Nhưng suy cho cùng, những phim được khán giả mến mộ như báo chí nói nhiều đều là phim đáp ứng thị hiếu thấp của khán gia sao? Ôi, bao giờ các rạp chiếu bóng của ta có phim ta xem thích để khán giả được đến sinh hoạt văn hóa, được giao lưu xúc cảm giữa cộng đồng, được tự hào về điện ảnh nước nhà. Bao giờ các rạp chiếu bóng bị sửa thành chỗ “Chát bùm chát chát bùm” được trở về đúng tên gọi ban đầu của nó là rạp chiếu bóng?
Lưu Thúy – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 1+2 (762+763) – 1998

Bảo quản và chế biến nhung

Nhung là sừng non của hươu và nai. Vào đầu mùa xuân sừng non mới mọc lên dài từ 5 đến 20 cm, rất mềm, mặt ngoài phủ đầy lông tơ màu nâu nhạt, trong đó rát nhiều mạc máu và phát triển rất nhanh. Nhưng tốt là loại chưa phân yên (chưa có nhánh); khu chuẩn bị ra nhánh thì nhung trông giống như yên ngựa nên người ta gọi là nhung yên ngựa loại này được ưa chuộng. Nhung tốt là loại khô mềm, thái được, không có xương tảng, không nứt. Khi cắt nhung phải đảm bảo vô khuẩn, dùng cưa hay dao thật bén mà cắt; lấy vải bông tẩm cồn 90 độ bọc lại chỗ cắt (lúc cắt cần làm cho hưu, nai bình tĩnh không hoảng sợ để máu trong nhung không chảy mạnh, làm giảm mất chất). Phần máu c hảy ra có thể pha ngay vào rượu uống ngay rất bổ; thường dùng cho ngườu có tuổi
Nhung tươi có thể làm sạch lông, thái miếng mỏng, ngâm rượu mà dùng. Việc làm khô rất quan trọng, liên quan đến giá trị và phẩm chất của nhung. Chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn một số cách làm khô nhung sau đây:
Cắt nhung xong, treo ngược lên lấy giấy bản tẩm rượu gừng quấn xung quanh nhung, để nhung đứng ngược (để mặt cắt lên trên) trong một cái thùng có đáy dễ tháo. Lấy cát nóng từ 30 – 40 độ C cho vào thùng ngang bằng mặt (chú ý không để cát rơi vào vết cắt nhung), khi cát nguội, tháo cát ra, lại làm như trên nhưng cho cát nóng hơn có thể từ 60 – 70 độ C. Làm như vậy cho tới khi khô. Mỗi lần thay cát nên thay giát bản tẩm rượu (cách này thường dùng)
Hoặc lấy giấy bản tẩm rượu gừng treo cao lên bếp cho khô, sau đó phơi trong râm. Hoặc lấy giấy bản nhúng vào nước gừng có pha rượu quấn vào nhung để sau 2 giờ, lấy bẹ chuối tươi bó lại; nuống cho tới khi bẹ chuối khô thì thôi. Hoặc sấy nhung trong tủ sấy, cho nhiệt độ từ thấp tới cao và giữ ở 70 đến 80 độ C cho đến khô
Khi nhung khô bọc vào giấy bản, đựng trong thùng kín để chỗ khô ráo
Quang Lâm Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 18 (674) – 1996

Làm sao để dân biết

Trong thời kinh tế thị trường mọi ngành kinh doanh đều coi khách hàng là thượng đế! Ấy vậy mà những thượng đế mua điện hàng tháng phải trả tiền nhưng họ đều không biết mình trả như vậy có đúng hay không? Chỉ có chính những công nhân đi ghi số điện mới trả lời được, bởi những đồng hồ đo điện được treo rất cao; có khi để rất xa. Vì vậy đã xảy ra không ít thắc mắc, nhiều gia đình phàn nàn rằng họ rất khó tự kiểm tra khi có những nghi vấn…
Trưa 28/8 tại tổ 13 phường Đồng Nhân, Quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) chúng tôi đã chứng kiến Bác X thắc mắc về số điện dùng hàng tháng của gia đình quá cao mặc dù đồng hồ đã được kiểm tra một lần nhưng vẫn chưa thỏa mãn, bác hỏi một công nhân đang trèo ghi số điện:
Chú xem giúp hộ có trục trặc ở đâu? Sao số điện của tôi vẫn nhiều thế!
Kiểm tra rồi còn gì nữa? Anh thợ điện gắt lên.
Bác X vẫn ôn tồn nhắc lại và phân trần với mọi người, lập tức nhận được lời bất nhã; thế là đôi bên to tiếng; bà con trong xóm rất bất bình với thái độ của anh công nhân nọ.
Thiết nghĩ việc chống tổn thất điện năng, quản lý chặt chẽ các khách hàng sử dụng điện là việc làm cần thiết, song việc treo đồng hồ đo điện trên cột cao như hiện nay quả thật có nhiều bất tiện… Hàng tháng phải có 3 công nhân cùng đi ghi (một người trèo lên đọc, người dưới ghi, một người nữa giữ thang hoặc cùng khiêng thang), như vậy hiệu quả lao động không cao, ít an toàn… Còn khách hàng phần nào cũng cảm thấy mình bị xúc phạm, những thượng đế không được tin tưởng.
Một số nơi đã xảy ra việc: do ngại phải trèo lên cao nên số điện hàng tháng được ghi theo ước đoán (dựa vào số điện sử dụng của tháng trước để tạm tính), thế rồi đến một tháng nào đó khi trèo lên ghi cụ thể thì số điện tự nhiên cao vọt lên, gây thắc mắc cho người tiêu dùng.
Qua những sự việc trên, đề nghị Sở điện lực thành phố và chi nhánh điện Hai Bà Trưng sớm có biện pháp để dân biết và kiểm tra được số điện ghi hàng tháng khi đồng hồ đo điện để ở trên cao phòng chống ăn cắp điện.
Một số bà con tổ 13 Đồng Nhân – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 38 (746) – Năm thứ 36 – 1997