Đầu tư một đồng cho chương trình dân số sẽ tiết kiệm được 7,6 đồng (phần 2)

Năm 1979, tổng tỷ suất sinh là 4.8 với cả hai phương án. Nhờ thực hiện mạnh Chương trình (CT) Dân số kế hoạch hóa gia đình đến năm 1996, sự chênh lệch giữa hai phương án là 1,6 con và số con trung bình của mỗi phụ nữ là 2,8 con; năm 2010 sự chênh lệch này là 2,1 con trong khi số con trung bình của một phụ nữ sẽ giảm xuống 1,9.
Năm 1979, dân số cả nước 53 triệu; năm 1996: 75 triệu 355 nghìn do thực hiện mạnh Chương trình đã giảm được 5,6 triệu. Nếu Chương trình tiếp tục được đầu tư theo phương án cao đến năm 2010, dự tính dân số cả nước vào khoảng 93 triệu, tức ít hơn 25 triệu nếu thiếu sự đầu tư này. Và so với phương án thấp, chi tiêu thực tế cho chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội sẽ giảm được 12 nghìn tỷ đồng. Khoản tiết kiệm tích lũy được từ chi tiêu xã hội từ 1979 đến 2010 sẽ lên tới 107,2 nghìn tỷ đồng. Khoảng 90% khoản tiền này là do không phải chi cho giáo dục.
Khi so sánh các chi phí cho Chương trình Dân số kế hoạch hóa gia đình  với các khoản tiết kiệm từ y tế, giáo dục và an sinh xã hội, nghiên cứu cho thấy, năm 1995 đầu tư cho chương trình đã bắt đầu tự chi trả; các khoản tiết kiệm sẽ tiếp tục được tích lũy và sự hoàn vốn từ các chỉ tiêu này sẽ tiếp tục gia tăng, càng về sau lợi ích đem lại càng nhiều. Đến năm 2010, một đồng đầu tư vào Chương trình Dân số kế hoạch hóa gia đình  sẽ tiết kiệm được 7,6 đồng do tránh được các chi tiêu cho y tế, giáo dục và an sinh xã hội. Đương nhiên, cần hiểu rằng mức chi trong tương lai cho các lĩnh vực xã hội trong nghiên cứu này được tính toán rất khiêm tốn và cũng chưa bao gồm mọi dịch vụ xã hội mà người dân sẽ đòi hỏi. Mặt khác khi đánh giá lợi ích đích thực cũng cần căn cứ vào mức đầu tư hiện thời bình quân theo đầu người (bao gồm cả ngân sách trong nước và viện trợ quốc tế) trong chiến lược Dân số kế hoạch hóa gia đình  đến năm 2000, chúng ta mới đạt khoảng 0,5 USD. Có thế mới thấy hết nỗ lực của chúng ta, mới thấy hết được vai trò tổ chức điều hành hoạt động chương trình. Từ đó thấy được sự cần thiết phải đầu tư thêm để đạt mức tối thiểu như đã thể hiện trong Chiến lược Dân số kế hoạch hóa gia đình  đến năm 2000 (tức ở mức bình quân đầu người 0,6 USD như kinh nghiệm của một số nước nghèo đã thành công trong lĩnh vực này).
Để đạt mức sinh thay thế vào năm 2005 (tức sớm hơn 10 năm so với mục tiêu đã ghi trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 7), công tác dân số cần được giải quyết đồng bộ trên cả ba bình diện: quy mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số; và để đáp ứng được những yêu cầu này, vấn đề dân số phải được lồng ghép với phát triển, với chăm sóc sức khỏe sinh sản (bao gồm các nội dung: làm mẹ an toàn, nâng cao sức khỏe người mẹ và trẻ em, ngăn ngừa và điều trị các bệnh viêm đường sinh dục và các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có HIV/AIDS, ngăn ngừa và điều trị vô sinh, chú ý hơn nữa đến các vấn đề: tiền mãn kinh, tuổi thanh thiếu niên; sức khỏe người cao tuổi…). Từ đó nâng cao hiệu quả của kế hoạch hóa gia đình , giảm tỷ lệ phá thai; giảm tử vong ở bà mẹ và trẻ em, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và toàn xã hội.
Chỉ có sự nỗ lực hợp tác của nhiều ngành, nhiều tổ chức và của toàn xã hội mới là bảo đảm thực sự thực thi một chiến lược dân số và phát triển như thế.
Bảo Châu – Sức Khỏe & Đời Sống – Số 52 (760) – Năm thứ 36 – 1997

Đầu tư một đồng cho chương trình dân số sẽ tiết kiệm được 7,6 đồng (phần 1)

Năm 1995, đầu tư cho Chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình đã bắt đầu tư chi trả. Các khoản tiết kiệm sẽ tiếp tục được tích lũy, và sự hoàn vốn từ các chỉ tiêu này sẽ tiếp tục gia tăng. Đến năm 2010, một đồng đầu tư vào chương trình này sẽ tiết kiệm được 7.6 đồng cho không phải chi cho y tế, giáo dục và an sinh xã hội.
Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình (DSKHHGĐ) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là một yếu tố cơ bản trong chính sách phát triển của đất nước từ 36 năm qua. Đặc biệt từ sau Nghị quyết Hội nghị BCH trung ương Đảng lần thứ tư (khóa 7), ngân sách đầu tư cho chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình đã tăng lên đáng kể, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình ngày càng được xã hội hóa, điều hành chương trình ngày càng cải tiến. Do vậy tỷ lệ sinh đã giảm nhanh: từ 30,1 phần nghìn năm 1989 giảm xuống 28,5 phần nghìn năm 1993; 25,3 phần nghìn năm 1994; 23,9 phần nghìn năm 1995; 22,8 phần nghìn năm 1996; tỷ lệ phát triển dân số trong các năm 1993-1996 đã giảm mạnh và liên tục từ 2,40% năm 1992 xuống còn 1,88% năm 1996; số sinh tránh được nhờ Chương trình DSKHHGĐ các năm này lũy kế rất nhanh; đặc biệt là các khoản tiết kiệm được do giảm sinh, từ đó giảm được đáng kể các chi phí trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội.
Theo kết quả phân tích chi phí – lợi ích về các khoản đầu tư và tiết kiệm được trong Chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình thời gian từ 1979 đến 2010 của Trung tâm nghiên cứu thông tin, tư liệu dân số thuộc Ủy ban giáo dục dân số – kế hoạch hóa gia đình có sự giúp đỡ kỹ thuật của tổ chức Futures Group (Hoa Kỳ), nếu theo phương án đầu tư cao (phương án cao) tức Chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình và tác động của nó như thực tế đã diễn ra, tổng chi cho Chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình từ 47 tỷ đồng năm 1979 (tính theo giá cố định năm 1995) đã tăng lên 406 tỷ đồng năm 1996 và dự tính sẽ lên đến 612 tỷ đồng vào năm 2010. Còn nếu theo phương án đầu tư thấp (phương án thấp) với giả định mức đầu tư ở cấp quốc gia cho Chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình và tác động của nó trong cùng thời kỳ thấp hơn nhiều thì tổng chi này được ước tính khoảng 7 tỷ đồng năm 1979, 45 tỷ đồng năm 1996 và 62 tỷ đồng vào năm 2010. Mức chênh lệch về các khoản chi trong hai phương án cao và thấp được so sánh với khoản tiết kiệm được do phải chi ít hơn cho các dịch vụ xã hội cho một dân số nhỏ hơn.
Bảo Châu – Sức Khỏe & Đời Sống – Số 52 (760) – Năm thứ 36 – 1997

Nhà báo Thanh Tịnh

Ông cười và sửa chữa câu nói trên thành ra :
Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo !
Những năm chiến tranh kéo dài, Thanh Tịnh có chớm buồn. Buồn vì cảnh “ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân”, buồn vì xa cách quê hương, và cũng phải suy nghĩ vì tuổi già đã đến.
Nhưng khi trò chuyện với bạn bè, ông vẫn hóm hỉnh :
“Thông nhất sớm, tôi về Văn Lâu”
“Thống nhất lâu, tôi về Văn Điển”.
Văn Lâu là phủ Văn Lâu ở Huế, Văn Điển là tên gọi nghĩa trang Hà Nội.
Nói thế thôi, nhưng cuối cùng ông được về cả hai nơi.
Một tâm tình nho nhỏ
Một lần, gặp một dồng nghiệp vai đeo túi vải, đầu đội mũ mềm, chân đi dôi giày bám bụi, mắt đeo kính hai tròng, tôi vồn vã bắt tay và nhanh nhảu hỏi :
Anh khỏe chứ, đã về hưu chưa ?
Bạn đồng nghiệp đưa tay nhấc kính nhìn tôi, nói :
Hỏi như vậy có nghĩa là anh là nhà báo nhưng không hiểu nghề báo. Nói thật, tôi vừa nhận hai trăm ngàn nhuận bút đây. Đi uống bia, ta nói chuyện nhiều.
Được mời đi uống bia, tôi đi liền. anh gọi hai vại bia và một đĩa tái dê. Cụng vại “xin mời”, anh nói :
Thực ra anh hỏi có cái đúng. Tôi đã về hưu lúc 63 tuổi, năm nay tôi đã 65. Nhưng tôi nói anh không hiểu nghề báo bởi cái máu nghề nghiệp nó cứ đeo đẳng mình mãi, không viết không chịu được anh ạ. Vào đời đã viết, ra về còn viết, và viết mãi. “Sinh ư nghệ, tử ư nghệ” mà ! Nhưng tôi không làm ở tòa soạn nào mà tình nguyện làm cộng tác viên cho vài ba tờ báo, anh em làng báo mình biết nhau cả thôi.
Anh viết khỏe đấy – tôi nói – cái nghề chúng mình là vậy. Tôi cũng hưu nhưng chưa nghỉ, có điều khác là tôi được các anh bên báo Sức khỏe và Đời sống bảo vào làm việc ở Tòa soạn. Cũng biên tập, cũng viết…
Anh bạn cụng vại “xin mừng” và nói : Sức khỏe và Đời sống là tờ báo mới, đối tượng khá rộng, có nhiều câu bút cộng tác viên cứng, phóng viên trẻ, anh làm đấy cũng được.
Chúng tôi ngồi tâm tình nhỏ nhẹ với nhau, hết chuyện báo đến chuyện đời, chuyện người. Anh bạn tôi gọi thêm một vại bia nữa, san tôi, nhấm nháp cho biết đĩa tái dê rồi chia tay nhau.
Tôi thủng thẳng đạp xe qua phố Tràng Tiền, Tràng Thi, Nguyễn Thái Học… mà mấy từ “không hiểu nghề báo” cứ đeo đẳng mãi tôi. Từ khi ra đường đến lúc về hưu, đằng đẵng mấy chục năm trời theo nghiệp báo, ba lô túi xách đi hết miền ngược miền xui, đồng bằng thành phố.
Phi Chi – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Một con người cụ thể

Phải cứu cháu bé này. Chở cháu lên Sài Gòn ? Còn những tám chục cây số nữa. Đường phố Sài Gòn giờ này rất đông người, không thể chạy nhanh được. Quay xe trở lại bệnh viện tỉnh gần hơn. Ở đó người ta sẽ mổ cho cháu. Nhưng đưa cháu về có nghĩa là sẽ bỏ mất cuộc họp. Ông Năm Thọ, thường vụ tỉnh ủy phụ trách khối đã đi trước. Luận chứng kinh tế cho cái bệnh viện mới lại đang cần ý kiến đóng góp của ông Tám. Ông Tám thở dài nhìn cháu bé. Cháu lại cứ bám riết lấy ông, cháu đã đặt hết niềm hy vọng vào ông. Và như thế ông càng không thể để cháu thất vọng, càng không thể nhẫn tâm gỡ tay cháu ra khỏi người. Ông thấy sóng mũi cay cay. Ôm lấy cháu, ông nói :
Dù thế nào ông cũng phải cứu cháu.
Ông ẳm cháu lại xe và nó với người đàn bà :
Chị lên xe đi, chúng tôi sẽ đưa cháu đến bệnh viện. Người đàn bà bối rối chạy theo ông và lúng túng chui vào xe. Cường cho xe quay đầu rồi tăng tốc độ.
Ra khỏi bệnh viện, ông Tám giục Cường phóng xe thật nhanh hy vọng vớt vát được chút thời gian còn lại. Nhưng mọi cố gắng đó đều vô ích. Đến nơi, đã mười một giờ trưa. Cuộc họp đã kết thúc.
Ông Tám đi tìm ông Năm Thọ. Ông Năm vốn là phó tiến sĩ kinh tế học ở Đức về. Một con người thích sự rạch ròi, luôn hướng về mục đích cụ thể hơn là bị tình cảm chi phối. Gặp ông Tám, ông Năm lạnh lung nói :
Anh giải thích đi !
Ông Tám kể lại việc xảy ra dọc đường.
Ông Năm nói giọng nặng trịch :
Tôi đã trông thấy mẹ con nhà ấy vẫy xe. Nhưng tôi hỏi anh giữa một việc cỏn con ấy với việc xây dựng cả một loạt bệnh viện để cứu bao nhiêu sinh mạng con người thì cái nào cần thiết hơn ?
Ông Tám cố ôn tồn :
Nhưng tôi không thể vô tình trước sinh mạng của cháu bé.
Hử, tôi nghĩ là anh đã không còn thích hợp với công việc nữa !
Nói rồi ông Năm đứng dậy bỏ đi trước sự bối rối của ông Tám.
Qua kính chiếu hậu Cường thấy ông Tám ngồi buồn so. Anh là người gần gũi ông Tám nên hiểu và thương ông. Không riêng anh, nhân dân trong tỉnh cũng rất yêu quý ông. Nhà ông lúc nào cũng có khách. Người đến xin cho con họ được chuyển về dạy ở thị xã, người nhờ can thiệp tranh chấp ruộng đất, người nhờ giúp đỡ trong vụ kiện cáo, trù dập v.v…
Truyện của Nguyễn Trường – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Nên mặc quần áo gì ?

Không nên may quần áo mùa hè bằng sợi tổng hợp vì loại vải này làm tăng thân nhiệt, không thấm mồ hôi, khiến cơ thể ta lúc nào cũng nóng hầm hập. Nên may quần áo rộng để có cảm giác thoải mái. Mùa nóng nên mặc quần áo màu sáng, không nên mặc quần áo sẫm màu vì màu sẫm sẽ hấp thu ánh sáng và nhiệt độ nhiều hơn màu sáng.
Mặc dù vậy, bạn cũng không nên quá lo lắng cho cuộc sống mùa hè vì cơ thể chúng ta sẽ thích nghi dần với cái nóng.
Con mắt thứ ba ?
Ở động vật có bao nhiêu con mắt ?
Ba con mắt chứ không phải là hai.
Quả đúng như vậy. Điều này cũng lạ lùng như răng gà vậy, nhưng trong thực tế lại tồn tại con mắt thứ ba không chỉ ở gà, mà cả ở người, cá, ếch, thằn lằn, kỳ đà, chim, heo, trâu bò… Ở ếch, nó nằm trong da trên đỉnh đầu. Ở thằn lằn – ngay dưới da và bị che lấp bởi các vẩy. Ở kỳ đà thì vảy che này trong suốt nên con mắt thứ 3 nhìn thấy được ánh sáng và phân biệt cả màu sắc. Ở động vật có vú, nó nằm sâu trong não được gọi là tuyến tùng (ở người, tuyến này chỉ nặng 0,1 – 0,2g) và nó biết rất rõ những gì xảy ra bên ngoài. Qua nghiên cứu, người ta sơ bộ biết được rằng nó điều hòa thân nhiệt ở các động vật tiềm nhiệt, điều chỉnh màu da ở động vật lưỡng thê, tham gia cân bằng nước, muối, thành phần của máu, quá trình tiêu hóa, sự thành thục về sinh dục và các hoạt động sinh dục của cơ thể ; nó tổ chức trạng thái tình cảm của người và do nó chính nó đã quy định tính cách hoạt động tâm lý ở người. Bởi vậy, thay vì đặt tay lên trái tim, ta có thể đặt tay lên đầu mà bảo rằng : Tâm hồn anh đang rạo rực vì yêu em.
Có điều khá thú vị là nếu con mắt thứ ba – tuyến tùng bị hỏng thì trẻ em sẽ trưởng thành rất sớm, các cơ quan sinh dục phát triển cực kỳ nhanh chóng và trở nên to quá cỡ. Còn nếu phẫu thuật cắt bỏ con mắt thứ ba ở gà con thì chúng lớn rất nhanh, trở thành gà mái, sinh dục trưởng thành mau chóng và đẻ rất khỏe, rất nhiều lứa.
Suy ngẫm
Cha đẻ của vinh quang và hạnh phúc là sự làm việc.
(U.Uripiep)
Ăn không cùng, mặc không cùng. Không biết tính toán, suốt đời cùng.
(Ngạn ngữ Trung Quốc)
Tuệ Minh (Sưu tầm) – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Tờ báo Vui sống

Trong ban biên tập báo Vui sống có thầy lang Khoai vui tính, trả lời các thứ thắc mắc của bạn đọc một cách hóm hỉnh.
Thí dụ bạn Thạch Vân hỏi :
Tại sao vợ chồng con dê đều có râu mà vợ chồng tôi chỉ riêng tôi có râu, vợ tôi lại không có ?
Tại sao đàn ông không có kinh nguyệt ?
Lang Khoai trả lời :
Ông muốn có kinh nguyệt và vợ ông có râu à ? Sao dở hơi thế !
Bạn Nguyễn Kiệt hỏi :
Có phải lao phổi thì tóc và râu mọc tốt không ?
Lang Khoai trả lời :
Chẳng cứ gì lao phổi, cả người khỏe và người bệnh cũng tốt râu tốt tóc… nếu để hàng tháng không chịu cạo.
Qua năm cửa ải chém sáu tướng. Quan Văn Trường không thể bị “lao phổi” được sao người đời vẫn gọi là “Ông tốt râu”.
Trang văn nghệ của Vui sống cũng phong phú. Có tùy bút của Nguyễn Tuân, có thơ trào phúng của Tú Mỡ, thơ trữ tình của Thanh Huyền. có truyện ngắn của Nguyễn Trinh Cơ, Minh Đạo, Từ Bích Hoàng v.v…
Tôi thiết nghĩ những cây viết chủ chốt của Vui sống làm báo như vậy là vừa thông thạo nghề thầy thuốc vừa thông thạo nghề làm báo. Những người viết báo chuyên ngành của chúng ta hiện nay có nên “ôn cố tri tân” trên những trang báo cũ như báo Vui sống để luyện tay nghề cho mình chăng ? Riêng tôi rất thích cái vui, cái cười trên tờ báo ấy. Đúng như một thầy thuốc trứ danh đã nước : “Tiếng cười là sức khỏe của con người”. Đọc lại Vui sống, ngồi cười một mình, tôi cũng thấy khỏe ra đôi chút.
Trung tâm điều khiển giấc ngủ
Nhóm nghiên cứu Clifford Saper ở bệnh viện Beth – Israel tại Boston (Mỹ) vừa phát hiện ra trong não có một nhóm nơ rôn điều khiển giấc ngủ. Nhóm nơrôn này, không to hơn đầu một chiếc kim, ở trong vùng dưới đồi của não, có nhiệm vụ điều hành giấc ngủ, cũng như một số hoạt động khác ; kích thích ăn uống, hoạt tính sinh dục… Nhà nghiên cứu người Hà Lan Wally, Nanta, ngay từ năm 1940 đã chú ý tới nhóm nơrôn này khi khảo sát những con chuột bị mất ngủ sau khi bị cắt bỏ nhóm nơrôn đó. Nhóm Clifford Saper hy vọng rằng công trình nghiên cứu này trong tương lai có thể giúp tìm ra những thuốc gây ngủ, hoặc ngược lại những thuốc gây thức giấc tự nhiên hơn và ít độc hơn so với các dẫn chất barbituric hoặc amphetamine.
Châm ngôn
Người độ lượng bao giờ cũng thấy mình giàu có.
(Ngạn ngữ La tinh).
Trần Lê Văn – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Một vùng non nước

Trạm Mẩy trên đồi cao nhìn ra toàn cảnh hồ Thượng, lác đác có các hòn núi chắn, tạo những khúc quanh ngoạn mục trên mặt hồ. Ở thế cao, với tầm nhìn này, trạm Mẩy quả là nơi dừng chân lý tưởng cho du khách trước khi đi vào lòng hồ, tiếp cận với khu rừng lim nguyên cảnh
Đưa chúng tôi đi rừng là hạt Phó Hạt kiểm lâm Phạm Hồng Phong ở cái tuổi 42 chín chắn, từng trải mà vẫn còn săn chắc như một thanh niên. Anh Phong quê xã Hải Vân, chỉ cách trụ sở Vườn quốc gia chừng cây số. Anh hiểu biết vùng này vừa bằng gốc gác quê hương nơi mình lớn lên, vừa bằng nghiệp vụ buộc phải hiểu biết. Năm 1977, anh từng là đội trưởng đội điều tra quản lý, bảo vệ Lâm Trường Như Xuân.
Xuồng máy của chúng tôi càng đi trên thượng nguồn sông Hận Ri, hai bờ càng hẹp lại và nước cứ nông dần, đến một lúc gần như bị cạn, phải tắt máy, kéo xuồng qua chỗ cạn. cuối cùng chúng tôi cặp bờ đi bộ nốt đoạn cuối. Khi cập bờ, xuồng bị vướng dây câu, có tiếng cá quẫy mạnh. Một đồng chí kiểm lâm nhấc dây, ở đầu dây là một con cá quả bằng bắp chân đang giẫy giụa. “Ô ! Lại có quà tươi sống cho an hem ở Điện Ngọc rồi !”. Sợi dây câu, tiếng mìn đánh trộm cá là những dấu hiệu cư dân kiếm sống trong lãnh địa Vườn quốc gia. Tôi nghe nói Điện Ngọc là trạm kiểm lâm ở sâu nhất, giáp với khu rừng lim xanh, loại cây đặc hữu nổi tiếng của Việt Nam và là loài thực vật tiêu biểu của rừng Bến En, chắc phải xa đây lắm ! Con cá sao mà còn tươi được ! Thế mà chúng tôi đi chưa được một tiếng đồng hồ đã tới. đường bằng dễ đi, chỉ do ít người qua lại nên cỏ gianh mọc lút đầu người, lan ra lấp cả lối đi. Trận mưa hôm trước còn ướt đường, nên chúng tôi nhìn rõ dấu chân thú chạy ngang qua. Nhà văn Hoàng Minh Tường kêu lên : “Ô ! Có vết chân hổ này !”. Chúng tôi xúm lại. Quả nhiên có một vết chân to bằng nắm tay đàn ông còn hằn trên bùn non. Nhìn vết chân hổ còn mới giữa vùng cỏ gianh, chẳng những chúng tôi không sợ mà còn thích thú, thỏa được một phần nỗi khao khát thiên nhiên của người thành phố. Tôi hỏi anh Phong, người thường đi rừng có hay gặp thú không ? Anh kể :
Chúng tôi đi rừng cứ nghe tiếng sói tru nhiều là tìm đến.
Bút ký của Vân Long – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Danh y đời xưa của Trung Quốc

Nhờ vậy, ông đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm riêng và đã tổng kết trong cuốn sách thuốc mang tên “Thương hàn tạp bệnh luận”. Đời sau, coi đây là tổng kết của y học Trung Hoa từ thế kỷ thứ hai trở về trước. Hoa Đà khen “đây là một kiệt tác để cứu sống người”. Ngoài ra người ta còn tách “Thương hàn tạp bệnh luận thành “Thương hàn luận chuyên về bệnh ngoại cảm” và “Kim quỹ yếu lược” chuyên về tạp bệnh.
Có chuyện kể về ông đã dùng kim châm chữa khỏi cho một phụ nữ bị bệnh tâm thần, lúc nào cũng thấy ma quỷ, cũng như chữa khỏi cho một cháu bị bệnh nhiệt, song lại được chữa theo cách của phù thủy, chuyện cũng nói về tài quan sát lâm sàng của ông : Nhiêu năm về trước gặp một thanh niên tên là Vương Kiệt, ông nói “Hiện anh đang có bệnh căn, vài năm nữa bệnh sẽ phát và có rụng lông mày, nay nếu không chữa, để đến lúc bệnh phát ra thì sẽ chết. Tôi khuyên anh nên dùng bài ngũ thạch thang”. Vương Kiệt nghe xong không hài lòng, cũng chẳng uống thuốc, sau đó phát bệnh phong và chết thật. Trong thực tế lâm sàng, với người sốt cao và hư yếu, ông không dùng thuốc tả hạ, với người hôn mê anh dùng cách kích thích cho tỉnh lại, với người bị ngạt ông dùng hô hấp nhân tạo. Ông đã dùng các dạng thuốc khác nhau để chữa bệnh như thuốc thang, thuốc hoàn, thuốc tán, thuốc rượu, thuốc cao, thuốc thổi vào mũi, thuốc nhỏ mũi, nhỏ tai, thuốc đặt hậu môn, đặt âm đạo, thuốc tửa, thuốc tẩm, thuốc xông.
Công lao của ông được đời sau đánh giá cao. “Thương hàn luận”, “Kim QUỹ yếu lược” của ông được coi là hai trong bốn tập kinh điển y học Trung Quốc (Nội kinh, Nạn kinh, Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược).
Trong Thương hàn luận, ông đã tổng kết : quy luật phát sinh phát triển của các bệnh ngoại cảm thương hàn. Ông đã biện chứng các trạng thái bệnh tật trên cơ sở triệu chứng của 6 kinh (Thái dương, thiếu dương, dương minh – thuộc dương, thái âm, thiếu âm, quyết âm – thuộc âm) (thường gọi là Thương hàn lục kinh) đã phân ra bệnh ở biểu (kinh dương), ở lý (kinh âm), đã xác đinh bệnh thuộc hàn thuộc nhiệt, đã phân biệt bệnh là thực là hư, và đã quy nạp bệnh thuộc âm thuộc dương. Người đời sau đã xây dựng phương pháp biện chứng theo bát cương trên cơ sở nội dung biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, âm dương của Thương hàn luận.
GS Hoàng Bảo Châu – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Công ty Đông Nam Dược Bảo Long

Thành phố Hồ Chí Minh
Kính thông báo
Hiện nay có những nhóm người giả danh là CBCNV của Công ty Đông Nam Dược Bảo Long tới các địa phương khám, chữa bệnh và bán thuốc giả. Với chiêu bài “Nhóm dịch vụ phục vụ khuyến mãi” hoặc với hình thức “Sơn đông mãi võ”. Bằng biện pháp giả danh này chúng đã lừa gạt được rất nhiều người thiếu thận trọng.
Nay Công ty Đông Nam Dược Bảo Long thông báo để nhân dân các địa phương cảnh giác. Nếu gặp chúng thì báo cho các bộ chức trách Nhà nước bắt giữ kịp thời bọn lừa đảo, tránh những hậu quả cho nhân dân lao động.
Thuốc của Công ty Đông Nam Dược Bảo Long được bán tại các cửa hàng đại lý thuốc trên toàn quốc.
Sau đây là địa chỉ của một số Tổng đại lý và các cửa hàng tại các tỉnh phía Nam:
Trung tâm kinh doanh và phân phối sản phẩm của Công ty Đông Nam Dược Bảo Long
Địa chỉ: Ấp III – xã Xuân Thới Thượng – huyện Hốc Môn – TP. Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 8.911138 – 8916654 – Fax: 8.911351
Giám đốc trung tâm: Nguyễn Biên Hòa
Phó giám đốc: Vũ Hồng Thái
Phạm Duy Cường
Các đại lý bán sỉ và bán lẻ tại TP. Hồ Chí Minh
Tổng đại lý: 126 Hải Thượng Lãn Ông – Q5
ĐT: (08) 8.554413
Công ty Hương Thảo – 90A Lý Thường Kiệt – Q10
ĐT: (08) 8.650826/2209
Công ty dược Bến Thành – Tân Định – Q1
ĐT: (08) 8.202224
Công ty dược quận 10 – 372 đường 3/2 – Q10
ĐT: (08) 8.324587
Cửa hàng số 30 Nhung Thành – Nguyễn Văn Đường – Q5
ĐT: (08) 8.366101
Tiệm thuốc Bắc Tế Sinh Đường – Số 36/1 Cống Quỳnh – Q1
Công ty dược Gò Vấp – 218 Nguyễn Văn Nghi – Gò Vấp
ĐT: (08)8. 943838
Các điểm bán lẻ tại nhà thuốc, cửa hàng dược phẩm, phòng chẩn trị YHDT trên toàn Thành phố. Các đại lý và cửa hàng bán sỉ và bán lẻ tại các tỉnh phía Nam
Nhà thuốc Tuệ Tĩnh – 280 Ông Ích Khiêm – Đà Nẵng
ĐT: (051)8.27038
Tiệm thuốc Hiệp Thái – Đạp Đá – Bình Định
ĐT: (056)8.39422
Tiệm thuốc Bắc Con Nai – Thị xã Kon-Tum
ĐT: (060)8.62018
Công ty dược Gia Lai – Số 4 Quang Trung – Playku
ĐT: (059)8. 24192
Công ty dược Đắc Lắc – 33 Lý Thường Kiệt – Buôn Mê Thuật
ĐT: (050)8.52009
Đại lý Hoàng Minh – 143 Trần Quý Cáp – TP Nha Trang
ĐT: (058)8.28119
Hội y học dân tộc Ninh Thuận – 14 Lê Lợi – Phan Rang
ĐT: (068)8.22654
Nhà thuốc Vạn Nguyên Đường chợ Phan Thiết
ĐT: (062)8.16896
Công ty dược Vũng Tàu – 180 Lê Lai – TP. Vũng Tàu
ĐT: (064)8.52863
Tiệm thuốc Trung Thiên – cửa số 4 Tòa Thánh Tây Ninh
ĐT: (066)8.42119
Nhà thuốc Hoàng Anh – 142 đường 3/2 Cần Thơ
ĐT: (071)8.38625
Nhà thuốc Trần Xuân Đường – 37 Nguyễn Văn Trỗi – Sóc Trăng
ĐT: (079)8.21981
Nhà thuốc Đức An Đường – 36 Đề Thám – Cà Mau
ĐT: (078)8.32184
Nhà thuốc Tinh Thân – Long Xuyên
ĐT: (076)8.53407
Nhà thuốc Huệ Quần – 13 Nguyễn Huệ – Trà Vinh
ĐT: (074)8.62479
Và các điểm bán lẻ tại tất cả các phòng chẩn trị YHDT, các tiệm thuốc Đông, Tây Y tại các thị xã, thị trấn, huyện, xã…
Cảm ơn sự quan tâm của quý khách
Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 35 (743) – Năm thứ 36 – 1997

Những điều cần chú ý khi dùng thuốc ngoài da

Một số người quan niệm rằng da chỉ là một vỏ bọc đơn thuần bao bọc các tổ chức xương, cơ, gân bên trong. Nhưng phải nói một cách khoa học da là một cơ quan có nhiều chức phận quan trọng: bảo vệ, bài tiết, hô hấp, chuyển hóa, dự trữ. Vì vậy khi dùng thuốc ngoài da chúng ta luôn phải chú ý đến tác dụng của thuốc, phản ứng của cơ thể đối với thuốc. Thuốc lại phải thích hợp với tính chất và giai đoạn của tổn thương. Tùy theo tuổi, tùy theo vùng da của cơ thể, tùy theo mùa, thời tiết, theo tính chất công tác, nghề nghiệp của bệnh nhân để chọn thuốc dùng.
Để chọn thuốc cho đúng và sử dụng hợp lý cần chú ý một số điểm sau:
Những thương tổn đang trợt, loét, chảy nước nhiều, chỉ sử dụng các loại dung dịch như: thuốc tím pha loãng 1/10.000 hoặc đắp gạc, phun nước hoặc các dung dịch màu như: Milian, stiemycin, dalacin… Tuyệt đối không được dùng các loại kem, mỡ ở giai đoạn này sẽ gây ra làm ứ sự thoát dịch, cản trở chức năng bài tiết của da.
Cần thăm dò các phản ứng của cơ thể với thuốc nhằm trách các phản ứng dị ứng thuốc nguy hiểm làm bệnh nặng hơn. Muốn vậy, tốt nhất là nên bắt đầu bôi thuốc từ vùng còn nhỏ để theo dõi phản ứng của thuốc nếu thấy vùng bôi thuốc ngứa tăng hoặc xuất hiện đỏ nề thì lập tức phải ngừng ngay; ngược lại nếu không ngứa không nề, đỏ thì tiếp tục bôi rộng ra toàn bộ tổn thương. Đặc biệt khi bôi ở vùng da mặt cần kiểm tra thuốc có bị dị ứng không, người bệnh nên thử phản ứng thuốc bằng cách bôi vào cánh tay mình khoảng 1-2 giờ, nếu thấy an toàn có thể sử dụng bôi vào vùng mặt được.
Cần phải được y, bác sĩ chuyên khoa ngoài da khám bệnh cẩn thận, có chỉ định rõ ràng mới được dùng thuốc không nên cho thuốc bôi khi chỉ hỏi qua thư từ hoặc người nhà, đặc biệt là những thuốc gây độc như axit chrysophanic không được bôi toàn thân, không được sử dụng cho trẻ em và phụ nữ có thai.
Đối với trẻ em, sự nhạy cảm của da trẻ không giống người lớn do đó phải sử dụng thuốc ở tỷ lệ thấp hơn người lớn. Ví dụ mỡ salicylic ở người lớn có thể dùng loại 2%, 5%, 10% nhưng ở trẻ em chỉ được dùng loại 0,5% – 2% mà thôi. Các vùng da mỏng dễ bị kích thích như vùng bẹn, mông cần đặc biệt chú ý hơn nữa nên dùng loại dung dịch hoặc loại phun, loại hồ; không nên dùng loại mỡ vì gây bí hơi, lép nhép làm cho bệnh nặng hơn.
BS. Ngô Xuân Nguyệt – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 35 (743) – Năm thứ 36 – 1997