Bệnh u mềm lây

Với ALA – PDT: có thể điều trị triệt để bệnh sùi mào gà và tránh sự tái phát bệnh. Chứng minh thông qua tài liệu trên lâm sàng, ALA – PDT là liệu pháp điều trị bệnh sùi mào gà lý tưởng nhâ’t hiện nay trên thế giới, mang đến cho bệnh nhân một phương án điều trị tốt nhất, khả năng chữa khỏi bệnh sủi mào gà cao, tỷ lệ tái phát thấp, không bị đau, tổn thương và không để lại sẹo.

Phương pháp này đã điều trị thành công cho Tất nhiều bệnh nhân và nhận được râ’t nhiều sự hưởng ứng của người bệnh, được cho là phương pháp tiên tiến hiện đại nhât hiện nay về hướng điều trị các loại bệnh xã hội.

Bệnh u mềm lây

Bệnh u mềm lây cũng có thể lây truyền qua đường tình dục nên nó cũng bị coi là bệnh lây truyền qua đường tình dục. Ư mềm lây là bệnh nhiễm trùng da do virus gây ra với biểu hiện là các mụn ròi rạc trên da, ở giữa các mụn bị lõm. Bệnh sẽ càng lan rộng nếu các nốt mụn bị vỡ hoặc xưóc trên da.

Dâu hiệu nhận biết bệnh

Hầu hết các bác sĩ có thể chẩn đoán một bệnh u mềm dựa trên sự xuâ’t hiện của các mụn nước. Trong trường hợp phức tạp thì người bệnh sẽ được cho làm sinh thiết để chẩn đoán chắc chắn.

Dâu hiệu ban đầu của bệnh là người bệnh nổi các nốt mụn tròn, gồ cao trên da, chắc, bề mặt nhẵn, lõm bên trong.

Các nốt mụn thường tập trung thành nhóm và chủ yếu xuất hiện ờ vùng mu sinh dục.

Điều trị bệnh

Trong hầu hết các trường hợp, nhiễm trùng u mềm có thế tự khòi. Trong trường hợp không phát hiện và điều trị kịp thời, đúng bệnh cỏ thể khiến bệnh nặng thêm, các mụn trên da dê bị vỡ, gây viêm nhiễm, nhiễm trùng ở vùng sinh dục, vê lâu dài có thể dẫn đến viêm nhiễm trong cơ quan sinh dục, gây ảnh hưởng đến việc thụ thai.

HIV/AIDS

HTV là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Human Immuno-deíiàency Virus (Virus gây suy giảm miên dịch ở người), mv có 2 loại là HIV-1 va mV-2.

AIDS là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Acquired Immuno Deficiency Syndrom (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải). Trước đây, bệnh được gọi là SIDA (viết tắt từ tiếng Pháp: Syndrome (TImmuno Deíicience Acquise), nhưng do tên này trùng với tên của Tổ chức Phát triển quốc tế Thụy Điển SIDA và tên của Tổ chức CIDA (Canađa) cũng gọi là “Si đa” nên thông nhâ’t gọi là AIDS để tránh nhầm lẫn và phù hợp với tên quổíc tế.

AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra. HIV phá huỷ các tê’ bào của hệ miễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chông lại các virus, vi khuẩn và nâ’m gây bệnh. Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thê đề kháng được.

Phương pháp chữa sùi mào gà bằng ALA-PDT

Ảnh hưởng

Gây tổn thương cơ quan sinh dục

Thòi gian ủ bệnh của sùi mào gà từ 1 – 6 tháng. Người bệnh thấy xuâ’t hiện những tổn thương u nhú màu hồng tươi, mềm, không đau, có dạng giông như mào của con gà, dễ chảy máu. Ư nhú có thể mọc bất kỳ chỗ nào trong cơ quan sinh dục: âm hộ, hậu môn, dương vật, lỗ niệu đạo, cổ tử cung, thậm chí gặp cả ở miệng, họng. Khi bệnh nặng, các u nhú có thê’ phát triển và thành một mảng rộng trông giông như mào gà hoặc hoa súp lơ màu trắng hồng. Bề mặt mềm, mủn ra, ẩm ướt, giữa các nhú sùi có thế ấn ra một giọt mủ.

Ở phụ nữ u nhú thường mọc ở mép hoặc bên trong âm đạo, xung quanh hậu môn. Ở nam giới thường mọc ở dương vật, cũng có thế ở bìu hoặc xung quanh hậu môn.

Biến chứng nguy hiểm

Nếu bệnh nhẹ, tổn thương u nhú ít sẽ không hoặc ít gây đau đớn. Nếu khi các u nhú phát triển nhiều có thể gây đau, khó chịu khi đi lại, các u nhú có thể bị sây xát, chảy máu khi va chạm hoặc bội nhiễm, có mủ, sốt, nổi hạch ở bẹn.

Trong một sô’ trường hợp, những triệu trứng của bệnh sùi mào gà có thể không rõ ràng hoặc không biểu hiện nên người bệnh có thể không biết mình đã bị nhiễm virut. Hoặc ở người bệnh có biểu hiện nhung chủ quan không đi khám và điều trị, bệnh tiến triển thành mãn tính, dẫn đến các biến chứng nhiễm khuẩn, chảy máu, gây nguy hiếm cho thai nhi ò phụ nữ mang thai và làm tăng nguy cơ gầy ung thư âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, và dương vật…

Người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa đố khám và điều trị kịp thòi khi thấy có triệu chứng hoặc nghi ngờ khi có quan hệ tình dục không an toàn với bạn tình là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh. Việc điều trị sùi mào gà chủ yếu nhằm phá hủy tổn thương u nhú chứ không thể tiêu diệt được virut gây bệnh. Bạn nên đến trực ị tiếp đê’ các bác sĩ có thể khám và có phương pháp chửa tốt nhât cho bạn như: chấm dung dịch thuốc, đốt điện hoặc laser, đốt lạnh bằng ni-tơ lỏng… và cần tuân thủ đúng chi định điều trị và tái khám để đề phòng tái phát.

Cách chữa bệnh sùi mào gà truyền thống chi có tác dụng phá hủy tổn thương sủi chứ không thế tiêu diệt được virus, nên bệnh không khỏi hoàn toàn. Do đó, người bệnh mang virus này suốt đời và khả năng truyền bệnh cho bạn tình là rất cao.

Phương pháp chữa sùi mào gà bằng ALA-PDT

Phương pháp chữa bệnh bằng ALA-PDT đã chửa trị thành công cho vô số người bệnh sùi mào gà, đứng đầu trong các phương pháp chữa sùi mào gà, đem lại hi vọng mới cho người bệnh. ALA – PDT là kĩ thuật điều trị mói nhất hiện nay, đã được thử nghiệm với quy mô lớn trên toàn thế giới. Phương pháp này cũng đã được ứng dụng để điều trị các loại bệnh lây qua đường tình dục như: lậu, giang mai…

Biểu hiện bệnh sùi mào gà ở nữ giới

gây ra. Bệnh có thể gặp ở cả nam và nữ do quan hệ tình dục không an toàn vói người mang mầm bệnh HPV. Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 2-9 tháng. Ở nam giới, sùi mào gà thường xuất hiện ở rãnh quy đầu, bao quy đầu, miệng sáo, phần đầu của niệu đạo trước, da bìu. Ở phụ nữ, bệnh phát triển ở vùng âm vật, môi lớn, môi bé, âm hộ, cổ tử cung. Có trường hợp tổn thương bao phủ cả bộ phận sinh dục, các nếp gấp bẹn, vùng quanh hậu môn và bên trong hậu môn. Bình thường, sùi mào gà không gây đau đớn gì nhưng nếu sùi phát triển to có thể gây khó chịu khi đi lại. Khi bị sang chấn hoặc xây xát có thể làm cho sùi mào gà chảy máu hoặc bội nhiễm các loại vi khuẩn gây bệnh (hoặc vi khuẩn gram âm hoặc vi khuẩn gram dương hoặc bị cả hai loại) gây sốt, hạch bẹn sưng to, nốt sùi có thể có mủ. Ngoài ra, nếu nghi ngờ mắc bệnh mà không được điều trị sớm, đúng phương pháp thì bệnh có thể trở thành ung thư, đặc biệt là ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật và dễ bị bội nhiễm vi khuẩn.

Biếu hiện

Biểu hiện bệnh sùi mào gà ở nữ giới.

Bệnh sùi mào gà ở tử cung xảy ra tại vùng chuyển tiếp của tử cung, trên một hoặc nhiều vủngrCŨng có thê’ tích hợp, có thể thây các quy tắc vòng ống mờ dưới da.

Sùi mào gà ớ âm đạo thường tập trung dày, phát triển ở 1/3 phía trên hoặc 1/3 phía dưới âm đạo, gây ra các tổn thương lớn, có các mụn trắng dày đặc, đôi khi lồi lên hình thành các mảng bám phân bô mạch máu. Đặc điểm của sùi mào gà âm đạo là có tính tự phát và tự tiêu, đặc biệt là sau khi chữa trị tại tử cung và âm hộ.

Sùi mào gà thường gặp nhất tại âm môi, thường mềm, có màu hồng hoặc màu trẳng đục không có cuống u trên mạch máu, tập trung dày, ban đau xuất hiện tại những vùng ẩm ướt và vị tri tiếp xúc cọ xát như miệng âm đạo, âm hộ, lỗ niệu đạo, màng trinh, cùng có thể lan rộng đến âm môn và các vị trí khác hoặc xung quanh hậu môn.

Những vùng không có niêm mạc thì sùi mào gà biểu hiện rõ ràng hơn, giống vơi các mụn cóc thông thường.

Biếu hiện bệnh sùi mào gà ở nam giới:

– Sau khì bị nhiễm 2-9 tháng, bệnh nhân thường có các sùi nhò, mềm cao dần lên như nhú gai đường kính 1-2 mm, hav đẹt tròn màu hổng, về sau, chúng phát triển thành nhũng gai và liên kết vói nhau thành một mảng rộng trông giống như mào gà hoặc hoa súp lơ màu trắng hổng. Bể mặt mềm, mủn ra, ẩm ướt, giữa các nhú sùi có thể ấn ra một giọt mủ.

– Ở nam giới, sùì mào gà thường xuâ’t hiện ở rãnh quy đầu, bao quy đầu, miệng sáo, phần đầu của niệu đạo trước, da bìu.

Có trương hợp tổn thương bao phủ cả bộ phận sinh dục, các nếp gâp bẹn, vùng quanh hậu môn và bên trong hậu môn. Một sô’ trường hợp do vệ sinh kém, kèm theo có thai nghén hoặc cỏ bệnh lậu kết hợp nên các sùi mào gà phát triển thành một khôi lớn, to bằng nắm tay, màu đỏ tươi, tiết dịch mùi hôi thôi.

Bệnh sùi mào gà

Điều trị

Nếu bị các nốt phổng rộp ở bộ phận sinh dục hoặc bị herpes hãy đi khám ngay vì đó có thê là thời điềm tốt nhất để xác định có bị herpes hay không, để có hướng chửa trị sớm. Bác sĩ sẽ dùng tăm bông lau chô loét đê lây mẫu gửi tới phòng xét nghiệm. Trường hợp nặng có thê’ dùng thuốc, nhưng nên nhó, thuốc không trị được vi-rút mà chí giúp giảm triệu chứng. Người có thai không nên dùng loại thuốc này.

Nếu bạn cảm thây herpes đang phát triển nhưng chưa thấy nốt rộp, thì có thể lấy một cục nước đá gói vào chiếc khăn tay, rồi chườm lên chỗ đau trong một giờ có thể giúp làm nốt rộp không xuất hiện. Rửa chỗ loét bằng nước muối (2 thìa cà phê muối pha với 1 lít nước) hoặc dùng dung dịch betadine pha loãng. Bên cạnh đó, cần giữ cho vết loét khô và sạch, uống nhiều nước; nếu đi tiểu đau, thì CỐ gắng ngồi trong nước ấm; nên mặc quần áo chất liệu cotton, không mặc quần áo bó chặt; dùng thuốc giảm đau để giảm đau vừa hạ sốt (nếu có).

Cần lưu ý rằng, nếu người hay buồn chán, lo âu, căng thẳng sẽ dễ làm cho bệnh tái phát. Do đó cẩn phải ăn uống, nghỉ ngơi điều độ, tập thể dục và thư giãn.

Về điều trị, điều trị càng sớm càng tốt, càng có hiệu quả. Thuốc kháng virút dạng uổng có hiệu quả cao trong điều trị cả hai thể, tiên phát cũng như tái phát và có tác đụng làm giảm sự lây truyền bệnh. Thuổic thường dùng điều trị cho herpes sinh dục tiên phát. Acyclovy 400mg uống 3 lần mỗi ngày, uống từ 7 – 10 ngày, hoặc dùng Acyclovir 200mg uống 5 lẩn mỗi ngày trong 7-10 ngày. Ngoài ra, có thể dùng Famciclovir 250mg uôĩìg 3 lẩn mỗi ngày trong 7-10 ngày hoặc Valacyclovir lg uốíng 2 lần mỗi ngày trong 7-10 ngày. Thuốc có thể điều trị kéo đài hơn 10 ngày khi các triệu chứng chưa khỏi. Đôi với herpes sinh dục tái phát, thường dùng Acyclovir 400mg uôíng 3 lần mỗi ngày trong 5 ngày, hoặc Acyclovir 800mg uô’ng 2 lần mỗi ngày trong 5 ngày.

Những điểm cần lưu ý

Cần tránh quan hệ tình dục với người đang có vết loét bất kể ở miệng hay ở cơ quan sinh dục, vì có thể sẽ bị lây trong lúc nốt phổng rộp đang phát triển, cho đến khi vảy ở chỗ loét bong ra; dùng bao cao su để phòng tránh lây cho vợ (hoăc chồng); cần khám da liễu và phụ khoa đều đặn; nếu người mẹ đang mang thai mà có bệnh herpes thì có thế mẹ sẽ lây bệnh cho con khi sinh. Herpes có thể ảnh hưởng đến cả thể lực và tâm thần của trẻ, vì thế bác sĩ sẽ là người quyết định cho bạn có thể giữ lại thai hay không; người mắc bệnh herpes có thể cảm thây tội lỗi, ưầm cảm, lo lắng, thậm chí dê cáu giận – lúc này cần thiết có sự tư vẵh từ bác sĩ, các chuyên gia tư vân hay người có cùng cảnh ngộ đê’ giải tỏa.

Bệnh sùi mào gà

Sùi mào gà là một bệnh lây truyền qua đường tình dục, qua chỗ sây sát niêm mạc do Human papova virus (HPV)

Bệnh herpes sinh dục

ml máu lớn) thì nguy cơ xơ gan, ung thư gan càng ión. Tải lượng HBV là yếu tố tiên đoán độc lập cho sự phát triểh xơ gan, ung thư gan. Nồng độ ALT càng cao thi nguv cơ xơ gan, ung thư gan cũng càng lớn. Vì thê’ khi điếu trị viêm gan siêu vi B mạn, cẩn đưa HVN DNA vế dưới ngưỡng và đưa ALT về mức bình thường mới ngừng thuổc. Sau khi ngưng thuốc, cần theo dõi định kỳ, kế cá người bệnh mà khi ngừng điều trị HBV DNA ở ngưỡng tháp.

Trong thời gian điều trị, bạn nén làm xét nghiệm máu đê’ đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc điếu trị, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tháng nửa, bởi vì một sô” bệnh nhân có thê bị tái phát sau khi ngưng thuổc.

HERPES SINH DỤC

Bệnh herpes tạo nên những nốt phổng rộp ở cơ quan sinh dục, ỏ môi, miệng và một sô’ vị trí khác trên cơ thế. Bệnh dễ lây và dễ tái phát.

Nguyên nhân

Bệnh herpes do vi-rút herpes gây ra, lây từ người này qua người khác khi giao tiếp vói người bệnh qua đường âm đạo, miệng hoặc hậu môn, kê’ cả khi người đó có bị loét đau hay không. Bệnh dễ lây nhiễm khi nốt phổng rộp vỡ/ nhưng nó cũng có thể lây từ khi xuât hiện nốt phổng rộp, khi vết loét bong vảy và cả khi không nhìn thây vết loét.

Đợt phát bệnh đầu tiên thường nặng nhât, những đợt sau đó thường nhẹ hơn, Ban đầu, người bệnh có triệu chứng rát và ngứa ở bộ phận sinh dục; có thể kèm theo những biểu hiện như, thấy khó chịu trong người giông như bị cúm; sau đó xuâ’t hiện những nốt phồng rộp nhỏ -những nốt này sẽ vỡ ra, đóng vảy và da dần dần hổi phục.

Ở phụ nữ, nốt rộp có thể xuât hiện ở ẳm đạo, niệu đạo, cổ tử cung hoặc giữa hậu môn và âm đạo. Còn nam giới, nốt rộp thường xuât hiện ở dương vật, bao quy đầu, đôi khi ở bên trong niệu đạo, bìu hoặc giữa dương vật và hậu môn. Những vết loét này thường phục hổi sau 1-2 tuần.

Triệu chứng

Bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại virút, giới tính, tình trạng miễn dịch cơ thê’ và tuổi tác. Bệnh khỏi phát khi nhiễm lần đầu, với biểu hiện triệu chứng mà ngưòi bệnh thường gặp như: mệt mỏi, sốt nhẹ, đau đầu, có thể có rối loạn tiểu tiện, sau đó xuất hiện vùng tổn thương khởi đẩu bằng cảm giác khó chịu, nóng rát. Sau 24 – 48 giờ thì xuất hiện mụn nước, mọc thành chùm trên nền hổng ban, mụn nước vỡ nhanh và để lại vết chợt tròn, đau rát. Đối với nữ, vị trí thường gặp nhâ’t là ở vùng niêm mạc âm hộ, ầm đạo, cổ tử cung, tiết dịch trong, có khi có mủ. Đối với nam, vị trí thường gặp là thân dương vật và rãnh quy đầu. Bệnh có thể kéo dài 1-2 tuần. Tuy nhiên, herpes rất dễ tái phát, sau giai đoạn sơ nhiễm, virút herpes simplex, khu trú tiềm tàng ở hạch sau của tủy sống, khi có điểu kiện tái hoạt và gây bệnh, thế tái hoạt này thường ít thấy mụn nước, chủ yếu các vết chợt đa cung và ít đau rát hơn giai đoạn tiên phát.

Phối hợp chất tăng cường miễn dịch

cảm giác sốt nhẹ, mệt mói trong vài giờ, gọi là hội chứng giả cúm. Những biếu hiện này là do Interíeron khới động đáp ứng cúa cơ thê chống lại siêu vi giông như khi bạn mắc bệnh cúm vậy. Vê’ sau, tác dụng phụ này sẽ bót dẩn. Uổĩng Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm thuốc sẽ hạn chế biểu hiện đó. Nên tiêm thuốc vào buổi tôi đế hôm sau bạn có thể làm việc bình thường. Mặc dù là thuốc điểu trị đặc hiệu nhưng hiện nay tỷ lệ làm mất virus cúa interíeron alpha cũng chỉ đạt 40 – 50%, hơn nửa giá thành thường rất đắt (khoảng 150 triệu cho một liệu trình điểu trị 06 tháng) do đó khó phù hợp với đại đa sô” nhu cẩu của bệnh nhân, nhât là những người nghèo.

– Lamivudin: Có hiệu năng kháng virus. Khi dùng đủ liệu trình thì dâu hiệu lâm sàng mât đi, ALT trở vể bình thường, lượng virus (HBV DNA) giảm, hình ảnh mô học gan cải thiện. Thời gian đạt được mục tiêu này lệ thuộc vào từng người, ít nhất là 1 năm, trung bình 2 năm, có khi kéo dài tới 3 năm, nếu tái phát còn có thể dùng lại. Trước năm 2000, lamivudin được xem là thuốc đầu tay (rẻ tiền, dùng đường uống, tiện lợi). Nhưng hiện nay tỷ lệ kháng lamivudin lên tới 70% (lamivudin bị kháng thuốc theo kiểu gen) nên hiện không được ưa dùng nhiều. Tuy nhiên, cũng có khoảng 20% người bệnh hầu như không bị kháng thuốc. Cần lưu ý điều này đế có thể dùng lamivudin cho người có khả năng đáp ứng, nhất là với người kinh tế khó khăn (lamivudin vẫn là thuôc có giá rẻ).

– Adeíovir, entecavi, telbivudin: Thời gian đạt được mục tiêu điều trị ngắn hơn lamivudin. Tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn lamivudin và có hiệu quả với những người bệnh đã kháng với lamivudin.

– Tenoíovir: Là thuốc mới nhất được EƯ (Mỹ) mới cho dùng năm 2008. Qua các nghiên cứu cho thây tenoíovir tốt hơn các thuốc trước đó cả về mức đạt được hiệu quả và chưa bị kháng thuốc.

– Dùng phối hợp thuốc: Mây năm gẩn đây, có một số nghiên cứu phối hợp thuốc trong điểu tn viêm gan siêu vi B. Phối hợp chất tăng cường miễn dịch (interíeron-pegylat) với chất kháng virus (lamivudin) cho kết quả tôt hơn dùng mỗi thứ riêng lẻ, nhưng phốỉ hợp hai chất kháng virus thì cho kết quả không đều. Chẳng hạn dùng lamivudin+ adeíovir với người đã bị kháng lamivudin thì tính trên người dùng có 80% có đáp ứng, 80% giảm HBV DNA đến mức không phát hiện được, 84% ALT trở lại bình thường. Sau khi ngừng dùng 3 năm không nhận thây có sự bùng nổ đảo ngược về virut hay lâm sàng học, không hình thành sự đề kháng kiểu gen, không mất bù trừ ở người xơ gan. Nhưng có trường hợp không cho kết quả tốt hơn. Chẳng hạn: dùng lamivudin+ telbivudin thì tốt hơn dùng riêng lamivudin nhưng lại không tốt hom dùng riêng telbivudin. Vì sự phối hợp chưa ổn định, hơn nữa làm tăng chi phí điều trị nên các nghiên cứu này chưa áp dụng lâm sàng.

Khi nào ngừng dùng thuốc?

Tải lượng HBV càng cao (số lượng bản sao HBVDNA/

Khám chuyên khoa Gan

3. Người lành mang mầm bệnh: Đó là những trường hợp không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể. Họ mang siêu vi B trong người và có thể truyền sang người khác, mặc dù bản thân họ không có biểu hiện bệnh.

Khám chuyên khoa Gan

Nếu xét nghiệm máu HBsAg dương tính, bạn nên đến gặp bác sĩ có kinh nghiệm để được khám bệnh và phân tích kỹ hơn. Lúc này, cần xác định liệu có tình trạng viêm gan đang tiến triển hay không. Nếu có, cần làm thêm:

1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan

2. Siêu âm gan: Phân tích câu trúc của gan và các bộ phận xung quanh, tìm dâu hiệu xơ gan hoặc biểu hiện bất thường khác.

3. Nên làm thêm xét nghiệm sinh thiết gan, đổng thời tìm HBV DNA trong máu.

Lời khuyên chế độ ăn và lối sống

Chế độ ăn

Nếu bạn là người lành mang mầm bệnh, bạn nên hạn chế uống rượu. Người nghiện rượu mắc bệnh viêm gan B thường hay bị xơ gan hơn. Chế độ ăn bình thường là thích hợp với hầu hết trường hợp viêm gan siêu vi B. Khi có xơ gan, bác sĩ khuyên bạn nên giảm muôi trong chế độ ăn.

Lối sống

Người bị nhiễm SWG B thường lo lắng về nguy cơ truyền bệnh sang những người xung quanh. Môì lo này hoàn toàn hợp lý bởi vì siêu vi B lây nhiễm qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của bệnh nhân, cũng như do quan hệ tình dục. Hiện nay, đã có vắc-xin chúng ngừa cho những người tiếp xúc với người mang mầm bệnh (bạn tình, trẻ em, cha mẹ, người chăm sóc.).

Dù sao, người mang mầm bệnh cần có biện pháp đề phòng thích hợp, ví dụ nêu bạn bị đứt tay, hãy lau sạch máu bằng thuốc sát trùng. Nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

Điều trị

Tùy theo quyết định của bác sĩ, một sô’ trường hợp cần điều trị sớm và tích cực. Mục đích điều trị nhằm:

– Loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan, ung thư gan.

– Đào thải toàn bộ, hoặc một phần lượng siêu vi B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan.

Thuốc điều trị đặc hiệu hiện nay là Interferon alpha:

– Interíeron alpha là một chât tự nhiên có trong cơ thể người, được sản xuâ’t bởi một số tê’ bào khi cơ thể nhiễm virus. Chức năng của Interferon alpha là diệt trừ tác nhân gây bệnh. Như vậy, khi dùng Interíeron, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giông như cơ chế đào thải tự nhiên của cơ thể. Interferon alpha (biệt dược là Roíeronl – A) được đóng sẵn trong bơm tiêm có kèm kim nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân đều có

Bệnh viêm gan siêu vi B

Bệnh viêm gan siêu vi B

Siêu vi viêm gan B (SWG B) là một loại virut hướng gan, gây ra bệnh viêm gan. Theo ước tính của Tổ chức Y Tế Thế Giới, hiện có khoảng 350 triệu người mang siêu vi B, tập trung chủ yếu ở châu Phi, châu Á và Đông Nam Á.

Cách lây nhiễm siêu vi viêm gan B

SWG B lưu hành trong máu, do đó lây truyền chủ yếu qua đường máu. Một số đường lây nhiễm quan trọng là:

1. Mẹ truyền sang con: Đây là đường lây quan trọng nhất.

2. Đường tình dục: Bệnh viêm gan B có thể lây qua hoạt động tình dục cùng giới hoặc khác giói.

3. Truyền máu hoặc chê phẩm máu nhiễm siêu vi B, tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân viêm gan B.

4. Dùng chung kim tiêm có nhiễm siêu ví B.

5. Các nguyên nhân khác: Xăm người, châm cứu; xỏ lỗ tai với vật đụng không được tẩy trùng tốt có thể lây truyển siêu vi B.

Diễn biến tự nhiên bệnh viêm gan B

Nhiễm trùng cấp tính

Nhiêm SWG B cấp tính có biếu hiện giông cảm cúm, thỉnh thoáng có cảm giác buồn nôn, ói mửa. Đôi khi, nhiễm trùng cấp có thế nặng hơn với triệu chứng vàng da, vàng mắt, đau bụng, nước tiểu sẫm màu.

Nhiễm trùng mãn tính

90% trường hợp nhiễm SVVG B ò tuổi trưởng thành sẽ’ hồi phục hoàn toàn và không bao giờ bị siêu vi quây rầy lại. Chi có 10% chuyển thành “người mang trùng mãn tính”.

Tuy nhiên, ở trẻ nhiễm siêu vi B từ lúc mới sinh, bệnh diễn biến khác hẳn. Khoảng 90% sô’ trẻ này sẽ trở thành người mang bệnh mãn tính. Giai đoạn này kéo dài nhiều năm, có thê’ không có biểu hiện lâm sàng, cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, có nước trong ổ bụng, chảy máu đường tiêu hóa do vỡ mạch máu bị giãn, ung thư gan.

Nói chung, khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn xơ gan, chức năng gan khó có thể hổi phục, ngay cả khi tình trạng viêm gan được cải thiện. Vì vậy, các thầy thuốc thường điều trị bệnh sớm nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình xơ gan.

Chấn đoán viêm gan siêu vi B

Xét nghiệm máu

Bệnh viêm gan B có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu tại bệnh viện hoặc phòng khám bệnh. Cũng có thể tình cờ phát hiện bệnh tại Trung Tâm Truyền Máu-Huyết Học khi bạn tới cho máu. xét nghiệm HBsAg dương tính có thể do:

1. Nhiễm siêu vi B mãn tính tiên triển: Siêu vi đang nhân đôi, đang tăng sinh, gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan.

2. Nhiễm trùng đã qua: Một số người hiện tại không có viêm gan, nhưng đã tiếp xúc với SWG B trong quá khứ, tạo ra đáp ứng miễn dịch và thải trừ hoàn toàn siêu vi B.

Phụ nữ bị nhiễm nấm nhưng không có biểu hiện bệnh

Nhíều phụ nữ bị nhiễm nấm nhưng không có biểu hiện bệnh, khi gặp điểu kiện thận lợi như vệ sinh kém, mặc quẩn áo quá chật, quẩn lót bằng vải ni-lông gây ẩm ướt và không thoáng khí dễ có biểu hiện bệnh lý. Nguồn lây nhiễm nấm có thế ở ngoài môi trường hoặc ở đường tiêu hóa lây nhiễm sang.

Khi mắc bệnh người phụ nữ thường có hai triệu chứng nổi bật là rât ngứa và ra khí hư. Triệu chứng ngứa âm hộ là thường gặp nhất và làm cho người bệnh rất khó chịu, nhiểu người gãi gây trẩy xước làm bội nhiễm tại chô.

Khí hư thường không nhiểu và có màu trắng như váng sữa, không có mùi hôi. Các biểu hiện khác là đau, cảm giác bỏng rát trong âm đạo, âm hộ, đi tiểu khó và đau khi giao hợp.

Trường hợp nặng có thê gây đỏ, phù nề âm hộ và môi nhỏ, môi lớn, đôi khi lan ra cả đùi, bẹn. Bệnh thường nặng lên trước kỳ kinh nguyệt.

Đàn ông khi quan hệ tình dục vói phụ nữ bị bệnh cũng có thể bị viêm quy đầu, bao quy đẩu gây đỏ, ngứa, cảm giác bỏrtg, rát và có chất nhầy trắng. Bệnh thường xảy ra vài phút hoặc vài giờ sau khi giao hợp và thường khỏi sau khi rửa sạch.

Với các biểu hiện, triệu chứng trên, bạn có thể đến các cơ sở y tế để khám và xét nghiệm. Việc soi tìm bào tử nấm hiện nay có thể thực hiện được ở các cơ sở y tế tuyến huyện và nhiểu cơ sở y tế khác. Khi đã xác định bệnh cần điểu trị ngay.

Điều trị

Hiện nay có Tất nhiều loại thuốc mới có hiệu quả điều trị cao dùng đặt tại chỗ hoặc uống. Tuy nhiên chị em cần lưu ý việc vệ sinh tại chỗ, giữ cho vùng sinh dục không bị ẩm ướt, không mặc đổ quá chật, đồ ni-lông.

Một số loại thuốc điều trị

– Miconazole 200mg viên đặt âm đạo, đặt 1 viên khi đi ngủ trong 3 ngày.

– Clotrimazole 200mg viên đặt âm đạo, đặt 1 viên khi đi ngủ trong 3 ngày.

– Itraconazole (sporal) lOOmg uống 2 viên/ngày trong 3-5 ngày.

– Fluconazole (diílucan) 150mg uống liều duy nhât.

Trường họp bệnh mãn tính hoặc bị tái phát nhiều lần thì trước hết phải kiểm tra vì bệnh tiểu đường, các nguyên nhân gây suy giảm sức đề kháng và làm thuận lợi cho nấm phát triển như dùng kháng sinh kéo dài, corticoid, thuốc tránh thai có estrogen, nhiễm HIV.

Không mặc quẩn áo quá chật hoặc bằng sợi tổng hợp. Trong trường hợp bệnh kéo’dài và hay tái phát thì nên đến bác sĩ chuyên khoa để được khám nghiệm và có liệu trình điều trị phòng ngừa.

Đối với nam giới thường không cần điều trị vì bệnh sẽ khỏi. Tuy nhiên nếu bị viêm bao quy đầu thì có thê’ bôi các kem chống nấm như ketoconazole, clotrimazole, lamisil…

Viêm niệu đạo ở nam và nữ

thể dục có thế làm phát ban nhiểu hơn và làm triệu chứng nặng thêm.

Nguyên nhân

Bệnh do một loại nấm có tên là Dermatophytes gây ra. Bệnh lây do dùng chung khăn, quẩn áo hoặc qua quan hệ tình dục với người nhiễm bệnh.

Xét nghiệm và chân đoán

Cạo vùng da bị tốn thương đế lấy mẫu soi tươi và nuôi cấy nấm.

Điều trị

Bệnh được điểu trị bằng một hoặc hai nhóm thuốc chống nấm – nhóm azoIé hoặc nhóm aUylamine. Nhìn chung các allylamine cần thời gian điểu trị ngắn hơn, trong khi nhóm azole ré tiền hom nhưng cẩn thời gian điều trị lâu hơn. Phẩn lớn các trường hợp đáp ứng tốt với thuốc bôi tại chô.

Các thuốc nhóm aỉlylairũne

– Terbinafíne

– Naftifine

Các thuốc nhóm azole

– Miconazole

– Clotrimazoỉe

Nếu bệnh nặng hoặc không đáp ứng tốt với thuôc không kê đem, cỏ thế dùng các thuốc kê đơn mạnh hom ờ dạng bôi tại chỗ hoặc uống, bao gồm:

Thuõc bôi tại chỗ

– Econazole

– Oxieonazole

Thuốc uống

– Itraeonazoỉe

– Fluconazole

– Terbinaíine

Phòng bệnh

– Tắm rửa hằng ngày, nhất là sau khi tập thê thao hoặc khi bị ra nhiều mồ hôi. Rửa tay thường xuyên để tránh làm bệnh lây lan.

– Giữ khô: Giữ cho vùng háng được khô ráb. Thấm khô kỹ vùng bẹn và vùng sinh dục bằng khăn sạch sau khi tắm hoặc tập thế thao. Có thể dùng phấn rôm để chống ẩm.

– Giữ sạch. Thay đồ lót ít nhâ’t một lần mỗi ngày hoặc hơn nêíi ra nhiều mổ hôi. Thường xuyên giặt sạch quần áo tập.

– Giữ mát: Không mặc quần áo dày, bí hoi khi trời nóng ấm.

– Tránh mặc quần áo quá bó chật gây cọ xát vào da.

– Không dùng chung vật dụng cá nhân

– Điều trị bệnh nấm da ở bàn chân để bệnh không lấy lan lên vùng mông bẹn.

Bệnh candida

Triệu chứng

Nữ giới: Bệnh nhân thường ngứa nhiều, do vậy bệnh nhân thường phải gãi làm xây xước âm hộ và làm nấm lan rộng cả tẩng sinh môn, bẹn. Khí hư màu trắng đục như váng sữa, không hôi có thể kèm theo đi tiểu khó, đau khi giao hợp.

– Nam giới: Thường ít bị bệnh này và cũng có ít biếu hiện triệu chứng. Biếu hiện thường gặp là cảm giác bỏng rát qui đầu, ngứa, qui đầu và bao da đỏ, có nhiều vết rạn nứt và nhiều chất nhầy mà vàng trắng.

Hậu quả

– Hậu quả lâu dài đối với nam giới: Viêm niệu đạo.

– Hậu quả lâu dài đốì với phụ nữ: Viêm âm đạo, có thê’ lây truyền cho con khi sinh đẻ gây tưa miệng (lưỡi) làm cho trẻ khó bú.

– Có thê’ làm tăng nguy cơ nhiễm HIV.

Nguyên nhân

Bệnh viêm âm hộ, âm đạo do nâm rất hay gặp ớ phụ nữ, nó đứng thứ hai sau viêm âm đạo do vi khuẩn và thường cao gấp 3 lần bệnh trùng roi âm đạo.

Nguyên nhân gây bệnh chủ yêu do Candida albicans chiếm khoảng 90%, ngoài ra còn có các chủng candida khác và torulopsis glabrata. Nhiễm các chủng nâ’m không phải C.albicans thường chữa khố khăn hơn.