Chế độ dinh dưỡng dành cho chồng

Chăm sóc sức khỏe gia đình

2. Chế độ dinh dưỡng dành cho chồng

2.1. Những loại thực phẩm tốt cho sức khỏe của nam giới

Bông cải xanh

Một nghiên cứu mới đây của Harvard phát hiện ra rằng các loại rau họ cải như bông cải xanh, có thể bảo vệ chống lại ung thư bàng quang. Đó là một trong các loại ung thư phổ biến nhất, và ảnh hưởng đến nam giới nhiều gấp 2-3 lần so với ở nữ giới.

Các nhà khoa học đã phân tích chế độ ăn của gần” 50.000 người đàn ông và phát hiện ra rằng những người ăn năm khẩu phần rau hoặc nhiều hơn mỗi tuần sẽ giảm được một nửa nguy cơ phát triển ung thư bàng quang trong khoảng thòi gian mười năm. Trong số các loại rau họ cải, bông cải xanh và cải bắp đã được chỉ ra là các loại thực phẩm bảo vệ tốt nhất.

Cà chua và sô’t cà chua

Nam giới ăn nhiều cà chua, sôt cà chua, hoặc các loại bánh có chứa cà chua có thế tạo cho mình hàng rào chông lại ung thư tuyến tiền liệt. Đây là kết luận của các nhà nghiên cứu tại Đại học Harvard sau khi nghiên cứu thói quen ăn uổng của hơn 47.000 nam giói.

Các chuyên gia phát hiện ra rằng những người ăn nước sốt cà chua 2-4 lần mỗi tuần đã giảm 35% nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt so với những người đàn ông không ăn. Chat caro-tenoid gọi là lycopene, có rấí nhiều trong cà chua có chức năng phòng ngừa sự phát triển ung thư này.

Hàu

Trong con hàu, hàm lượng kẽm cao gấp hom 10 lẩn so với bất kỷ các loại thực phẩm khác. Trong một con hàu tươi có chứa 12mg kẽm. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc bổ sung dịch chiết từ con hàu có thể ngăn ngừa tình trạng suy yếu chức năng sinh lý do thiếu kẽm.

Dưa hấu

Nghiên cứu cho thây rằng các loại thực phẩm giàu kali có thể làm giảm nguy cơ huyết áp cao. Dưa hâu là một ngu ổn phong phú của các khoáng chất này. Trong một miếng dưa hâu to có chứa tới 664 mg kali bằng với lượng kali trong một quả chuối hay một cốc nước cam.

Bơ đậu phộng

Nếu bạn muốn có một trái tim khỏe mạnh, hãy ăn bánh mì nướng buổi sáng với bơ đậu phộng. Bệnh tim là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của nam giới và phụ nữ, nhưng độ tuổi tử vong vì bệnh này ở nam giới thấp hơn nhiều so với nữ giới. Các nhà nghiên cứu đã so sánh hiệu quả giảm cholesterol với một chế độ ăn uống có hàm lượng châ’t béo cao hơn nhờ đậu phộng. Sau 24 ngày, cả hai chế độ ăn này đều có tác dụng giảm cholesterol “xấu” (LDL). Tuy nhiên, kế hoạch ăn uống dựa trên đậu phộng có ưu điểm hơn là giảm mờ trong máu gọi là triglycerides và không làm giảm cholesterol “tốt” (HDL).

Bơ đậu phộng có một chút chât béo cao hơn các thực phẩm khác, nhưng đó là loại chất béo tốt cho bạn vì nó

Thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm phải toàn diện

Chăm sóc sức khỏe gia đình

thể dục, chê’ độ dinh dưỡng phù hợp, khoa học sẽ giúp phụ nữ lấy lại thăng bằng.

Nhiều nghiên cứu cho thây phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh có khả năng hâp thụ năng lượng thấp hơn 5-10% so với thời trẻ tuổi. Vì vậy, nạp 1.500 calo/ngày là phù hợp với phụ nữ ở độ tuổi này. Nếu muốn giảm béo thì nên giảm năng lượng tiếp nhận đến khi đạt đến trọng lượng tiêu chuẩn. Nên hỏi các chuyên gia dinh dưỡng để xác định năng lượng cần hâp thụ mỗi ngày, theo giá trị calo được hấp thụ qua ăn uống.

Thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm phải toàn diện, tránh ăn quá lệch.

Đường có thể cung cấp nguồn năng lượng chiếm 55-65% tổng năng lượng do các loại thức ăn cung cấp. Đường có trong một số loại tinh bột như gạo, mỳ, khoai lang, đô, đậu. Đối với những đồ ngọt có hàm lượng đường đơn chất, nên hạn chế sử dụng (mỗi ngày không vượt quá 35-50g). Việc ăn đường quá nhiều sẽ thúc đẩy hình thành mỡ trung tính trong nội tạng, gan, dẫn đến bệnh mõ trong gan và béo phì, thúc đẩy hình thành cholesterol trong máu, làm tăng quá trình xơ cứng động mạch, bất lợi cho răng.

– Protein là chất dinh dưỡng chủ yếu của tế bào cấu thành cơ thể. Thực phẩm chứa protein nên chiếm 10-15% tổng năng lượng. Nếu quá nhiều nó có thể gây bâ’t lợi cho gan, thận. Thịt nạc, cá, trứng, thịt gia cầm là những thực phẩm giàu protein. Nội tạng động vật, lòng đỏ trứng, cá mực… cũng chứa nhiều protein nhưng có hàm lượng cholesterol cao, nên dùng ít hoặc không dùng. Sữa tươi và các chê’ phẩm từ sữa giàu protein, canxi, nên sử dụng. Đậu tương và các sản phẩm từ đậu chứa 35% protein thực vật, có lợi cho sức khỏe, nên được sử dụng rộng rãi.

– Châ’t béo là chất dinh dưỡng không thể thiếu, mỗi ngày không nên ăn dưới 40g. Nó có thể tăng cảm giác muổh ăn. Chât béo còn câu thành nên tế bào não. Chat béo thực vật (như dầu đậu nành, dầu lạc, dầu hạt hướng dương, dầu ngô…) tốt hơn mỡ động vật.

– Rau xanh, hoa quả chứa nhiều vitamin c và muôi vô co. Chất xơ trong rau, hoa quả hỗ trợ cho tiêu hóa, chống táo bón. Một số loại quả chứa nhiều đường như dưa hâu, không nên ăn quá nhiều vì khả năng hấp thụ nguyên tố vi lượng sẽ giảm. Mỗi ngày chỉ nên ăn 25g.

Ngoài ra, nên định giờ ăn và lượng ăn phù hợp. Bữa sáng nên ăn no và đẩy đủ chất dinh dưỡng; bữa trưa nên án vừa phải và bữa tôi nên ăn ít. Trong thời gian làm việc buổi sáng, năng lượng tiêu hao nhiều; việc ăn sáng tốt có thể duy trì nồng độ đường trong máu ớ mức thích hợp. Nhờ đó, não tỉnh táo, tư duy minh mẫn, thể lực khỏe khoắn. Thức ăn trong bữa sáng nên giàu protein, có lượng chất béo thích hợp và có tinh bột. Sau khi ăn tối, năng lượng tiêu hao ít. Việc ăn quá no sẽ không tốt cho dạ dày và làm tăng thể trọng.

Chế độ ăn uống cho phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh

Sữa

Bạn nên tập thói quen uống sữa mỗi ngày. Sữa làm giảm nguy cơ loãng xương, hạn chế những tai nạn đáng tiếc do tuổi tác sau này. Đồng thòi với việc uống sữa, bạn cần tập thế dục và tiếp xúc thường xuyên với ánh nắng mặt tròi đế có lượng vitamin D cẩn thiết. Số lượng sữa uống hàng ngày khoảng 400ml/ngày.

Bia

Đôi với phụ nữ có tuổi, uổng một lượng bia vừa phải có tác dụng rất tổt trong việc phòng chông các bệnh liên quan tới tim mạch. Trong bia chứa những phân tử có tác dụng giữ lại can-xi và khoáng chât trong xương. Theo một nghiên cứu gần đây, những chât chổng oxy hóa trong bia đen giúp ngăn ngừa quá trình co thắt mạch, điều này giúp giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch. Với phụ nữ tuổi mãn kinh, loại đổ uổhg này giúp làm tăng hàm lượng cholesterol trong máu, và tăng hoạt tính của PON -enzyme, bảo vệ tim khỏi bệnh mạch vành.

Dầu Argan và Camelina

Được mệnh danh là “tinh dầu của làn da đẹp” vì chứa hàm lượng cao Vitamin E và axít béo thiết yếu, giúp giữ ẩm cho da, làm đẹp da từ sâu bên trong và ngăn ngừa quá trình lão hóa da. Dầu Camelina giàu omega 3 và axít alpha-linolelic. Hai thành phần này kết hợp lại sẽ giúp bảo vệ sự mềm mại và giữ ẩm cho làn da. Ở các nước phương Tây, hai loại dầu này thường được sử dụng trong bánh mì và xà lách.

Trà xanh

Cứ lOOg trà thì có khoảng 500mg vitamin c và l,2mg vi ta min B2, gấp bốn lần lượng sinh tô’ trong các loại đậu nành, gâp chín lần lượng vitamin có trong cơm gạo. Ngoài ra, trà xanh còn chứa vitamin Bl, A. Trà là một trong những tác nhân chông lại chứng béo phì, tăng cường khả năng tiêu hóa, loại trừ chất độc và là một trong nhừng bí quyết giúp duy trì tuổi thanh xuân.

Tinh chất mẩm đậu nành

Nhiều nghiên cứu khoa học trên thế giới đã chứng minh hợp chât isoflavon trong tinh chất mầm đậu nành có tác dụng tương tự nội tiết tô’ nữ estrogen – mầm đậu nành được ví như là estrogen thảo dược, râ’t an toàn. Sau tuổi 30 lượng nội tiết tố estrogen bị suy giảm gây hiện tượng lão hóa cơ thể ở chị em phụ nữ như: da nhăn, sạm, nám, tàn nhang, khô âm đạo, giảm ham muôn tình dục, rổì loạn kinh nguyệt, bổíc hỏa, loãng xương…

Cân bằng nội tiết tô’ nữ Estrogen từ tinh châ’t mầm đậu nành là một trong những bí quyết giúp gìn giữ tuổi xuân cho phụ nữ sau tuổi 30 được các chuyên gia khuyên dùng.

1.4. Chế độ ăn uống cho phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh

Ở độ tuổi 40-50 người phụ nữ bước vào giai đoạn tiền mãn kinh. Lúc này cơ thể có những biến đổi khiến họ lo lắng: không có cảm giác về tình dục, da mặt không còn độ căng, láng, tóc bắt đầu có những sợi bạc; cáu gắt, giận hờn vô cớ luôn xảy ra… Những sinh hoạt hằng ngày như tập

Chế độ ăn uống cho phụ nữ tuổi trung niên

– Nên duy trì uô’ng sữa dành cho bà mẹ mang thái và cho con bú đê đám báo đủ chât mà không bị tăng cân, chọn loại sữa có bô sung FOS (chât xơ) tốt cho hệ tiêu hóa, giúp tăng khá năng hâp thụ của người mẹ, vì sau khi sinh nở, hệ tiêu hóa cúa người mẹ thường bị yếu, khó khăn hơn trong việc hấp thụ dinh dưỡng, đặc biệt là những chất khó tiêu như đạm.

Ngoài ra, dinh dường khoa học rất quan trọng để làm giàu các dường chât cung cấp cho bé qua sữa mẹ – đặc biệt là nucleotides – rất cần thiết cho trẻ sơ sinh để hỗ trợ tăng cường miễn dịch vì trong giai đoạn này, hệ miễn dịch của trẻ phát triển chưa hoàn chỉnh.

– Ăn sáng vừa phải, đều đặn giúp người mẹ tránh tình trạng ăn uống quá độ trong ngày cũng là một cách hạn chế tăng cân hợp lý.

Trước đây, người mẹ sau khi sinh thường áp dụng chế độ kiêng khem khắt khe như chỉ ăn cơm trắng với muôi hay chỉ ăn duy nhất thịt heo nạc kho mặn, kiêng ăn rau… Phương pháp này không tốt bởi không cung câ’p đủ dưỡng chất cho cả mẹ và bé. Người mẹ sau sinh cũng cần chú ý tới việc uống nhiều nước hàng ngày (2- 3 lít) vì nước là thành phần chính tạo nên sữa cho con bú. Có thể uống nước lọc, uống sữa, nước ép trái cây. Trong thòi kỳ cho con bú cần tránh các loại châ’t kích thích có ảnh hưởng không tốt tới hệ thần kinh và sức khỏe của bé và hạn chế một vài loại gia vị như: ớt, tỏi, hành có thể qua sữa gây mùi khó chịu khiến trẻ dễ bỏ bú.

1.3. Chế độ ăn uống cho phụ nữ tuổi trung niên

Bạn là phụ nữ ngoài 30 và bạn cảm thây hơi chạnh lòng khi ai đó nói rằng bạn đang trong giai đoạn “trung niên”. Có thê’ nói, “kẻ thù” của phụ nữ là tuổi già và sự lão hoá. Dù Tất không muôn, chúng ta cũng phải đối diện với nhiều vân để về tinh thần, thế chất khi bước vào ngưỡng tuổi này.

Điều bạn cẩn nhất trong lúc này chính là một chế độ chăm sóc đặc biệt – chế độ dinh dưỡng với nhiều loại thực phẩm chông lão hoá cao. Theo nhiều công trình nghiên cứu, phụ nữ tuổi trung niên rât dễ béo phì. Vì vậy, một thực đơn hợp lý không chỉ có tác dụng ngăn chặn sự béo phì, mà còn có tác dụng bồi bổ cơ thể râ’t tốt.

Ngũ cốc

Buổi sáng, sau bài tập thể dục, nếu bạn ăn nhiều loại thực phẩm có chứa chất xơ sẽ là một sự lựa chọn tốt. Bởi những loại thực phẩm này vừa có thể cung cấp đủ châ’t dinh dưỡng cho cơ thể vừa có tác dụng ngăn chặn quá trình tích lũy thành mỡ. Bởi vậy, mỗi sáng thức dậy, hãy bổ sung cho cơ thể bằng một bát cháo ngũ cốc hay yến mạch.

Cá biển

Cá là loại thực phẩm có thể cung cấp rất nhiều canxi, vitamin D và omega 3. Đây là loại thực phẩm giúp chống lại quá trình lão hóa rât tốt. Theo những nghiên cứu mới nhất tại Mỹ, phụ nữ tuổi trung niên cần ăn nhiều cá, bởi trong cá có chứa nhiều chât có thể giúp trẻ hóa làn da và bảo vệ bạn khỏi các bệnh tim mạch.

Chế độ ăn uống cho phụ nữ sau sinh

chất sắt, có thể sử dụng viên sắt bổ sung đều đặn mỗi ngày hoặc các sản phẩm dinh dưỡng đặc biệt có bổ sung thêm sắt và acid folic như sản phẩm dinh dưỡng.

Acid folic (vitamin B9): cần thiết cho sự phát triển hệ thẩn kinh trung ương của thai, đặc biệt trong những tuần lễ đẩu tiên. Thiếu acid folic ở phụ nữ mang thai có thể gây ra dị tật Ống thần kinh ở trẻ em. B9 có nhiều trong gan, men bia, các loại rau xanh lá to, màu xanh đậm: mồng tơi, rau tần ô, đậu phộng, hạt dẻ, ngũ cốc, thịt, sữa…

Ngoài ra một chế độ ăn hợp lý và đa dạng sẽ giúp cơ thể người mẹ có đầy đủ các loại vitamin cần thiết giúp cho sự cân bằng của cơ thể và thai nhi phát triển tốt.

Iốt và kẽm:

Việc thiếu hụt các chất dinh dưỡng này có thể gây nên một SỐ tổn thương không phục hổi được. Thiếu hụt kẽm dẫn đến chậm hoặc ngừng tăng trưởng, dị tật bẩm sinh, làm gia tăng các triệu chứng nghén như nôn ói, chán ăn.

Kẽm có nhiều trong thức ăn động vật màu đỏ và nhuyễn thể, đặt biệt là hàu (chứa 75mg kẽm/lOOg).

Thiếu iốt là nguyên nhân gây nên các bệnh đần độn, bướu cổ, chậm phát triển cả về thể chất lẫn tình thần. Iốt có nhiều trong các loại hải sản, rong biển…, nhưng không phải ngày nào thai phụ cũng được cung cấp đầy đủ các thức ăn này vì vậy sử dụng muôi iốt thay muối thường là biện pháp phòng ngừa thiếu iổt hiệu quả nhât.

Chế độ ăn uống cho phụ nữ sau sinh

Sau khi sinh là thời gian mà cơ thể người mẹ thiếu nhiều chất nhất là khi đẻ người mẹ đã mất rất nhiều năng lượng máu và máu trong quá trình mang thai và vượt cạn. Nếu không được bổ sung đầy đủ dưỡng chất bằng một chế độ dinh đựỡng khoa học và nghỉ ngơi hợp lý, người mẹ sẽ không còn đủ sức để tái tạo lại sức khỏe và cung cấp nguồn sửa chất lượng cho con. Trong giai đoạn này, bà mẹ nên ăn đầy đu, cân đôì cức loại thực phẩm dinh dưỡng, tránh hiện tượng thừa ch.Vt bẻo mồ thỉêíỉ dinh dưỡng. Nhiều phụ nữ gặp phải hiện tượng này do chế độ ăn uổhg chưa hợp lý: án quá nhiều chất béo (nhu giò heo hầm…) trong khi bỏ ngỏ thức ồn giàu canxi, sắt, khoáng chât cộng thêm với việc (t vện động khìêh cơ thê người mẹ dù mập nhưng vẫn bị đau ỉung, chổng mặt buổn nôn. Cũng có rất nhiều người mv nham tưởng việc béo phì là thước đo của việc đủ chất, nén khi thầy co thố mập không dám tiếp tục bổ sung dinh dưỡng, điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của mẹ và con. Để tránh tình trạng này, người mẹ nên có một chế độ đình dưỡng khoa học bằng cách ăn đầy đủ các chất dinh dường và chú ý những điếm sau đây:

– Hạn chế đổ ăn chiên, xào, đồ ngọt, thức ăn nhanh… Thay vào đó hãy chọn thức ăn nhiều protein nhưng ít mỡ, nên dùng dẩu thực vật trong chế biến thức ăn.

Ăn nhiều rau xanh, trái cây đê’ tăng cường lượng vitamin và khoáng chất cho cơ thể.

Nhu cầu ăn uống cho phụ nữ mang thai

này ít hoạt động hơn, năng lượng tiêu hao cơ bản giảm, dạ dày và ruột hấp thu dưỡng chất cần thiết hiệu quả hơn cũng góp phần đáp ứng nhu cẩu dinh dưỡng…

Năng lượng:

Nhu cầu khuyến nghị ở 6 tháng cuôì là 2.550 kcal/ người, nghĩa là tăng hơn so vói người bình thường là 350 kcal. Chi cẩn uống thêm 2 ly sữa, 2 chén cơm hoặc ăn thêm 2-3 bữa phụ như khoai, bắp, chè, bánh… cũng đủ đáp ứng nhu cầu này.

Chất đạm (protein):

Do nhu cầu chất đạm tăng lên để tông hợp protein cho cơ thể mẹ như tăng lượng máu, tử cung… đồng thòi cung câp protein cho thai nhi và nhau thai hình thành và phát triển, nên phụ nữ mang thai cẩn được cung câp protein tôi thiểu 70g/ngày, cao hơn người bình thường 15g/ngày. Chỉ cần 70g đậu các loại cũng đủ cung câ’p nguồn protein 15g/ngày hoặc hai chén cơm thêm sẽ cung cấp thêm được 9g protein/ngày.

Vitamin, khoáng châ’t và các yếu tô’ vi lượng:

Canxi: khi mang thai, cơ thể mẹ cần lượng canxi gâ’p đôi bình thường (l.OOOmg canxi/ngày) để đáp ứng quá trình hình thành răng và xương thai nhi. Nếu việc cung cấp canxi trong thai kỳ không đầy đủ, cơ thể dẫn đến các triệu chứng vọp bẻ, đau mỏi cơ ở phụ nữ mang thai nhâ’t là 3 tháng cuối, và dẫn đến tình trạng loãng xương, hư răng ở mẹ sau sinh.

Đôi vói thai, lượng canxi cung cấp không đủ sẽ ảnh hướng đế việc tạo xương và các mầm răng từ trong giai đoạn bào thai, gây nên những khiếm khuyết về xương và răng có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Trẻ sinh ra đã có dâu hiệu thiêu canxi như mềm hộp sọ, thóp trước và thóp sau rộng, trẻ có các cơn khóc tím tái do co thắt, thậm chí bị co giật do hạ canxi huyết.

Nhu cầu canxi của phụ nữ có thai khó có thể đạt được nếu không uổíng sữa vì sữa là nguồn cung câ’p canxi dổi dào và dễ hấp thu nhât. Một ngày chỉ cần 2 ly sửa hoặc 100-200g cá, tép nhỏ ăn cả vỏ hoặc cả xương hoặc cá chiên xù, cá lớn kho rục xương, cá hộp, 50g mè..; là đủ cung ứng nhu cầu canxi cho thai phụ.

Sắt:

Nhu cầu sắt tăng cao để đáp ứng với sự phát triển bào thai trong tiên trình thai nghén và giảm nguy cơ mâ’t máu lúc chuyển dạ. Thiếu máu, thiếu sắt trên phụ nữ mang thai làm tăng nguy cơ tử vong đốỉ với thai nhi như sinh non, sảy thai, thai chết lưu, chậm phát triển bào thai trong tử cung. Thiếu máu, thiếu sắt được xem là liên quan đến Va trường hợp tử vong ở mẹ có liên quan đến thai sản, làm gia tăng các tai biến sản khoa nhât là tai biến do xuất huyết sau sinh.

Nhu cầu sắt trong khẩu phần là 30-40 mg/ngày có thể được cung câ’p từ những thức ăn giàu châ’t sắt như thịt, nội tạng động vật (tim, gan, thận, huyết…), lòng đỏ trứng, cá, thủy sản và đậu đỗ… Ngoài tăng cường thức ăn giàu

Chế độ ăn uống dành cho vợ

Chế độ ăn uống

1. Chế độ ăn uống dành cho vợ

1.1. Chê’độ ăn uống cho phụ nữ có thai

Chế độ dinh dưỡng của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối vói sự phát triển của thai nhi. Nhiểu nghiên cứu đã tìm thây môi liên quan chặt chẽ giữa khẩu phần ăn của mẹ và cân nặng của thai nhi và trẻ sơ sinh.

Những trường hợp người mẹ bị thiêu ăn hoặc ăn uổng kiêng khem không hợp lý có nhiều nguy cơ sinh ra đứa trẻ có cân nặng thấp dưới 2500g. Ngoài ra, nếu người mẹ tăng cân tốt, sẽ tích lũy được khoảng 4kg mỡ, tương đương 36000 kcal, là nguồn năng lượng dự trữ sau khi sinh.

Nhu cầu dinh dưỡng gia tăng do việc hình thành thai nhi, bánh nhau, gia tăng các mô cho mẹ và cho việc chuyển hóa cơ bản của mẹ 4.8% do đó người phụ nữ có thai cảm thấy nóng (3-6 tháng đầu: phát triển tử cung, các mô của mẹ, và 7-9 tháng sau: phát triển thai nhi và bánh nhau).

Thời gian mang thai khối lượng máu tăng 50% dẫn đến tăng nhu cầu chất đạm, sắt, acid folic, vitamin B6… Do vậy cần cung câ’p đầy đủ các chât dinh dưỡng.

Bình Minh (biên soạn)

Dinh dưỡng 3 tháng đầu

Trong 3 tháng đầu thai kỳ, thường có sự thay đổi về khẩu vị do tăng hoóc môn nên có thế việc ăn uống bị hạn chế hoặc bị nôn, ói. Vì vậy, trong 3 tháng đầu, nhu cầu dinh dưỡng không tăng hơn so với trước khi mang thai. Phôi phát triển Bình thường nhò dưỡng chất lấy từ nguồn dự trử của mẹ. Lượng dưỡng chất cần thiết không lớn vì phôi còn nhỏ và cơ thể mẹ đáp ứng được. Chí khi nguồn dự trữ của mẹ cạn kiệt do ăn quá ít và kéo dài mới gây ảnh hưởng đến thai nhi.

Để khắc phục triệu chứng nghén ở thai phụ trong giai đoạn này, có thể áp dụng một sô’ cách như sau:

1. Ăn bữa nhỏ, bữa phụ giàu dinh dưỡng mỗi 2 giờ.

2. Ăn các loại trái cây, thức ăn lỏng như sữa, phở, cháo, miến…

3. Tránh thức ăn nhiều gia vị, dầu mỡ… gây khó chịu.

4. Uống nước ngoài bữa ăn, tránh uổng trước, trong và sau ăn.

5. Có thể bô xung đa sinh tố, vi lượng và không nên uống thuốc chống nôn.

Dinh dưỡng 6 tháng cuối

Trong 6 tháng cuối nhu cầu dinh dưỡng tăng 10-30%. Lúc này các triệu trứng nghén giảm hoặc mất đi, thai phụ tăng cảm giác ngon miệng, lượng ăn vào tăng, đáp ứng đủ cho nhu cầu năng lượng và các dưỡng chất. Hơn nữa, cơ thể còn có những đáp ứng thích nghi như thai phụ lúc

Các bước vệ sinh lưỡi cho bé

hơi thớ khó chịu và giảm bệnh nhiễm trùng ở vùng miệng cho bé.

– Đôi khi lưỡi bé có một lớp phú màu trắng trên mặt lưỡi sau bú, bạn có thể lau đi một cách dễ dàng.

Tuy nhiên, nếu lười và hai bên má của bé bị đỏ khi bạn loại bỏ những mảng trắng thì có thế lưỡi bé bị nấm và cần phải đưa bé đến bác sĩ đế kiếm tra thêm. Không nên cố gắng để loại bỏ chúng vì có thê’ làm tổn thương bé. Nấm lưõi có thể xảy ra khi bé bắt đầu khóc, trong lúc bú mẹ hoặc bú bình. Nấm có thể lây từ bé sang bạn hoặc ngược lại, do đó, bạn cũng nên kiểm tra sức khỏe của mình thường xuyên.

Các bước vệ sinh lưỡi cho bé

Chuẩn bị: Vải xô mềm, sạch; Kem đánh răng không có flour; Nước ấm; Một cái bát nhỏ.

Thực hiện: Đầu tiên bạn cần rửa tay thật sạch và đổ nước â’m vào một bát sạch nhỏ và chắc chắn nước không quá nóng.

– Quấn vải (khăn) xung tay ngón trỏ của bạn, nhúng vào nước ấm trong bát.

– Có thể giữ bé  cố định bằng nhiều cách nhưng bế bé với một cánh tay trong khi vệ sinh lưỡi cho bé là cách đơn giản và an toàn hơn cả. Một tay bế bé, tay còn lại, bạn đặt ngón tay lên môi dưới của bé đê’ khuyến khích bé mở miệng.

– Khi bé mở miệng, bạn dùng ngón tay trỏ đã quân khăn, cọ xát lưỡi trẻ nhẹ nhàng theo hình tròn để loại bỏ những mảng trắng.

– Nêu những cặn trắng không hết, bạn hãy lây kem đánh răng không có flour, loọỉ kem đánh răng dành cho bé, cho lên khăn và lại chà nhẹ lên mặt lưỡi của bé với thao tác nhanh và dùng khăn ấm lau đi ngay không để bé nuốt phải kem đánh răng.

– Nếu những cặn trắng ớ lưỡi bé không thể làm sạch được, bạn hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ.

– Sau khi làm sạch lưỡi, di chuyển ngón tay của bạn xung quanh miệng của bé và mát xa nhẹ nhàng hàm răng, lợi cũng như vòm má, vùng dưới lưỡi cho bé.

Lưu ý

– Việc vệ sinh miệng lưỡi cho bé phải được thực hiện ít nhất một lần mỗi ngày sau khi bú.

– Dùng kem đánh răng không tạo bọt vì bọt có thể gây kích ứng cho bé.

Vệ sinh miệng, lưỡi cho bé

sinh tai sai lẩm, không hiệu quả và dễ gây ra những nguy cơ đáng tiếc cho bé.

Do cơ chế hoạt động của đôi tai các bé là thải ráy tai ra ngoài Ống tai một cách tự nhiên do đó các mẹ chỉ cần hàng ngày hay cách ngày, dùng khăn mềm thâm một chút nước âm lau nhẹ vành tai bên ngoài của bé là đã có thể vệ sinh tai hiệu quả cho bé. Tuy nhiên, do những yếu tô’ môi trường xung quanh như ô nhiễm, tiêng ồn… có nhiều bé sẽ sản xuâ’t ra nhiều ráy tai, nhât là các bé từ 36 tháng tuổi trở lên, đã bắt đầu hoạt động ở môi trường bên ngoài nhiều. Đôì với những trường hợp này thì chỉ vệ sinh bên ngoài vành tai không thì vẫn chưa đủ để lây hết ráy tai của bé vì còn rât nhiều ráy tai sẽ còn lun lại bên trong ổng tai, nếu không lây ra thường xuyên sẽ gây khó chịu cho các bé.

Phương pháp đa số các mẹ dùng để lây ráy tai là sử dụng tăm bông có thâm nước và đưa sâu vào ống tai của các bé. Thật ra đây là phương pháp vệ sinh tai không đúng cách và không hiệu quả. Khi đưa tăm bông vào sâu trong ông tai, ngay cả đôì với những loại tăm bông nhỏ dành riêng cho các bé thì không thể nào lấy hết ráy tai của các bé ra được. Một phần ráy tai còn lại bị đây sâu vào trong ông tai sẽ gây tích tụ ráy tai hay đóng thành nút ráy tai lâp phía trước màng nhĩ.

Đối với các dụng cụ lây ráy tai như đẩu móc kim loại hay các vật nhọn khác thì càng tuyệt đối không nên sử dụng vì các dụng cụ này sẽ dễ làm xây xát lớp da ống tai

mỏng và nhạy cảm của các bé, gây ảnh hưởng đến chức năng bài tiết ráy tai của ống tai. Tăm bông hay các dụng cụ lây ráy tai khác còn mang lại nguy cơ trầy hay thủng màng nhĩ vì các bé còn nhỏ hoặc vì chưa kiểm soát được hành vi, các bé rất dê vùng vẫy khi các mẹ đang vệ sinh tai cho bé.

Để loại bỏ ráy tai thừa trong đôi tai của các bé, nhâ’t là các bé từ 36 tháng tuổi trở lên, ngoài việc thường xuyên dùng khăn mềm thâm nước âm lau ngoài vành tai của bé, các mẹ có thể dẫn các bé đến phòng khám hay bệnh viện chuyên khoa Tai -Mũi – Họng để các bác sĩ chuyên môn vệ sinh tai một cách an toàn khi bé bị đóng ráy tai quá nhiều.

Vệ sinh lưỡi

Vệ sinh miệng, lưỡi không chỉ giới hạn ở người lớn mà còn Tất quan trọng với trẻ, đặc biệt là trẻ sơ sinh. Bé của bạn chưa mọc răng không có nghĩa là bạn không cần phải làm công việc vệ sinh miệng bé. Làm sạch và mát xa lợi trước khi bé mọc răng rất tốt cho quá trình mọc răng về sau…

Tại sao phải vệ sinh lưỡi cho bé?

– Để làm sạch hoàn toàn miệng, việc vệ sinh lưỡi sạch sẽ là cần thiết bởi mặt lưỡi chứa rất nhiều vi sinh vật. Lưỡi sạch có thể làm giảm số lượng những sinh vật trong miệng, giúp trẻ cảm nhận được hương vị tốt hơn.

– Lưỡi sạch sẽ vô cùng quan trọng trong việc làm giảm

Tắm cho trẻ mùa lạnh

tham gia các phương tiện giao thông (tàu, xe, máy bay…) không nên đọc sách vì chuyển động gập ghềnh khiến mắt phải thay đổi điều tiết liên tục gây mệt mỏi. Ngoài ra, cha mẹ nên bô’ sung đầy đủ dưỡng chất cho bé như vitamin A, Bl, BI 2, Taurine… có nhiều trong rau cú quả có màu đậm, thịt cá, trứng, sữa….

Vệ sinh thân thế

Tắm cho trẻ mùa lạnh

Không nên dùng nước quá nóng vì sẽ gây tổn thương cho da trẻ. Tốt nhât, hãy pha nước tắm cho trẻ theo cách sau: Cho nước lạnh vào chậu, sau đó mới thêm nước nóng. Dùng khuỷu tay để thử độ nóng của nước. Tuyệt đổì không dùng bàn tay vì mùa đông, nhiệt độ của bàn tay thường thâp hơn so với nhiệt độ của cơ thể. Do vậy dùng bàn tay thử độ nóng của nước tắm sẽ không chính xác.

Đối vói trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, nên tắm từng bộ phận cho trẻ, không cỏi bỏ hết quần áo trên người trẻ khi tắm.

Với trẻ từ 2 tuổi trở nên, có thể cho trẻ ngồi vào chậu tắm. Tuy nhiên, không nên để nước tắm ngập quá ngực trẻ vì sẽ gây cho trẻ cảm giác khó chịu do áp lực nước.

Khi tắm xong dùng khăn bông khô, đã được làm ấm quấn quanh người trẻ. Sau đó, mặc quần áo âím.

Lưu ý:

– Nên tắm nhanh, hạn chế việc chà xát mạnh lên da trẻ. Cố gắng hạn chế để nước bắn vào tai trẻ. Sau khi tắm, có thể dùng bông gòn để vệ sinh tai và rốn cho trẻ.

– Chỉ nên dùng loại sữa tắm chuyên dùng dành cho trẻ nhỏ. Đổng thời không nên lạm dụng và sử dụng sữa tắm quá thường xuyên vì chúng có thê làm da trẻ thô ráp hoặc dị ứng khi tròi lạnh.

– Nên tắm nơi kín gió. Nêu gia đình bạn sử dụng máy sưởi khi tắm cho trẻ, cần đặt máy sưởi cách xa noi trẻ tắm ít nhât từ 0,8 – lm. Sau khi tắm, cần giảm dần nhiệt độ của máy sưởi cho tới khi gần bằng nhiệt độ trong phòng rồi mới tắt hẳn để tránh việc thay đối nhiệt độ đột ngột làm trẻ nhiễm lạnh.

– Khi bố sung nước âm đế tắm cho trẻ, tuyêt đối không đố trực tiếp nước nóng vào chậu hoặc bôn vì sẽ dê gây bỏng da trẻ. Hãy pha nước ra một chậu khác rồi đổ vào bồn tắm hoặc chậu tắm cho trẻ.

– Cần nâng trẻ nhẹ nhàng bằng cách đặt 2 tay dưới nách trẻ. Không đặt tay ở lưng trẻ vì khi tắm, da trẻ trơn sẽ dễ bị trượt tay làm trẻ ngã.

– Tắm xong mới gội đầu: Đây là cách tắm gội rất khoa học không chỉ cho trẻ nhỏ mà còn cho cả người lón. Gội đẩu sau khi tắm giúp não bộ kịp tiếp nhận và thích ứng với những tín hiệu thay đổi của cơ thể. Đây là cách làm có tác dụng bảo vệ bộ não trẻ.

Vệ sinh tai

Tất cả các bác sĩ chuyên khoa Tai – Mũi – Họng đều khẳng định: dùng tăm bông hay các dụng cụ khác đi vào sâu trong ống tai để lây ráy tai cho bé là phương pháp vệ