Viêm đường tiết niệu ở trẻ

bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vaccine phòng viêm đurờng hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hương đần và tư vấn cùa cán bộ Y tế nhằm bào đàm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

– Lập sô theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giừ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhằn viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe bệnh tật của tré mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Viêm đường tiết niệu

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân gây nén bệnh viêm đường tiết niệu cho trẻ. Ở bé gái, do cấu tạo sinh lý là niệu đạo ngắn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn nên rât đl bị lây nhiễm bời các vi sinh vật từ phân lây sang. Ờ bẻ trai, cỏ một số do có dị dạng ở đường tiểu, nhất là hiện tượng hẹp bao quy đầu làm cho nưỏc tiêu thường xuyên bị ứ lại gây viêm đường tiết niệu ngược dòng. Một số tré không mặc quân, mặc quần thung đít hoặc hay chơi lăn lê trên mặt đất cũng râ’t dễ bị viêm đường tiết niệu.

Ngày nay, việc đóng bỉm cho bẻ là chuyện bình thường nhưng việc sử dụng bỉm không đúng quy cách cũng có thê làm cho trẻ bị viêm đường tiết niệu, nhât ỉà mồi khi cả phân và nước tiếu lẫn lộn vói nhau tạo điểu kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nên rất dễ làm cho trẻ bị nhiễm vi

Bình Minh (biên soạn)

khuẩn. Viêm đường Hết niệu ở trẻ đôi khi còn do các bậc phụ huynh hoặc cô nuôi dạy trẻ gây ra như việc rữa cho tfé sau khi trẻ đi vệ sinh. Nếu rửa đít cho tré mà rứa từ sau ra trước thì vô tình sẽ đưa vi khuấn vào lỗ tiếu, nhất là các trẻ em gái.

Về căn nguyên gây viêm đường tiết niệu ở trẻ chú yêủ do vi khuẩn E.coli và có thể do một số ký sinh trùng (vi nấm) hoặc do virut. Vi khuẩn E.coli là một loại vi khuẩn thuộc họ vi khuân đường ruột có nhiều trong phân của người và động vật. Ở ngoại cảnh, vi khuẩn này phân bố khắp nơi (trong đất, bụi, nước và không khí, thực phấm, rau, quả…) nên rất dễ lây nhiễm sang cho con người môi khi có điều kiện, nhất là khi vệ sinh môi trường chưa được cài thiện, vệ sinh cá nhân chưa tốt

Bỉêu hiện

Tuỳ theo độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì triệu chứng viêm đường tiết niệu càng kín đáo, khó phát hiện. Trẻ có thế bị sô’t nhẹ, sốt kéo dài, đôi khi sốt cao. Người ta thây rằng có một tỷ lệ khoảng từ 10 – 15% số trẻ không sốt mà thân nhiệt lại giảm. Trẻ có thê’ biếng ăn, kém chơi, hay quấy khóc, đôi khi có rối loạn tiêu hoá như nôn hoặc tiêu chảy. Đôi khi trẻ khóc khi tiểu bởi bị đau. Một số trẻ em trai lớn hơn có động tác sờ vào chim do khó chịu, đau khi đi tiếu. Trẻ cũng có thế đái dắt, buốt, đi tiếu nhiều lẩn trong một khoảng thời gian ngắn nên một sô’ trẻ bị viêm đường tiết niệu hay đi tiểu làm cho một số phụ huynh hoặc các cô bảo mẫu hiểu nhầm và đánh giá sai về hành vi của cháu.

Phòng bệnh viêm phổi ở trẻ

– Giai đoạn sớm: có thê’ chí có sốt nhẹ, ho húng hắng/ chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bó bú, quây khóc…

– Giai đoạn sau: nếu trẻ không được điểu trị đúng và theo dõi sát thì sẽ diễn biến nặng hơn với biếu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở/ thở nhanh, rút lõm lổng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi…

Ngoài ra, trẻ có thế bị tiêu chảy, nôn, đau bụng, phổi có nhiều ran ẩm nhỏ hạt. Tình trạng này kéo dài sẽ gây thỉếu oxy cung cấp cho não, trẻ sẽ li bì hoặc bị kích thích, co giật…

Nguyên tắc điều trị viêm phối ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chông suy hô hấp, chăm sóc tốt

– Ở tuyên cơ sở: Nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ (natricloxit 9%o), súc miệng hằng ngày. Có thế dùng một SỐ loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như: penixilin, amoxilin, erythromycin… (tốt nhất nên dùng đường uôhg, dạng siro). Khi tình trạng bệnh không cải thiện thì nên chuyển lên tuyến trên.

– Khi trẻ viêm phổi nặng: Nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đổ. Nếu không có kháng sinh đổ thì dựa vào lứa tuổi, diễn biên của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamycin, amoxilin, ceíotaxim, ceíuroxim…

Binh Minh Biên soạn

Điều trị hỗ trợ: Hạ nhiệt bằng paracetamon, chườm mát và làm thông thoáng đường thờ bằng cách hút đờm dãi, nằm cao đầu, nới rộng quần áo. Cho thớ oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nêu tim tái nặng, ngừng thở thì có ồng nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao và có biếu hiện mất nước, cần truyền dịch.

Chăm sóc: Cho trẻ ăn lỏng, đễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải và tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sè và phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Phòng viêm phôi ở trẻ

Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông Khí tôt, âm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nâu tnong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh đế tránh lầy lan thành dịch.

– Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hồ hấp nói chung như: ho, sốt, chảv nước mũi, khó thò… và cảc rôì loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân..

– Đám bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt Khi mang thai, bà mẹ phãì khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, cô chế độ ần đủ chất dinh dưỡng như protiđ, lipid, các loại vitamìn, muôi khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đên 2 tuổi đế cơ thế trẻ phát triển toàn diện và khá nầng chống lại bệnh tật tốt hơn.

– Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế

Bệnh viêm phổi ở trẻ nhỏ

Triệu chứng

Viêm phê’ quản ờ trẻ em kéo dài ba tháng trở lên, vói các triệu chứng trở lại hàng năm, được gọi là “viêm phế quản mãn tính”. Trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá hoặc các chất gây ô nhiễm khác trong không khí có nhiều khả năng phát triển bệnh viêm phế quản cấp tính hoặc mãn tính.

Trẻ bị viêm phê quản có triệu chứng thay đổi khác nhau tùy giai đoạn:

Mói bắt đầu là ho và khạc đàm: Ho xảy ra nhiều trong một năm, từng đợt, dễ xuât hiện khi trời lạnh hoặc thay đôi thời tiết, có thế ho khan nhưng thường ho có đờm màu trắng và có bọt. Khi ho lâu ngày, đờm đặc hơn, màu vàng và có mủ, về sau tăng nhiều hơn.

Khó thở là một triệu chứng quan trọng, xảy ra ở giai đoạn muộn hơn.

Trẻ bú kém, hay nôn trớ. Nếu bệnh nặng hơn, trẻ sẽ có dấu hiệu thở hôn hển từng nhịp, bú rất kém, tinh thần sa sút, không muôn chơi đùa… Sau đó, trẻ sẽ có cảm giác đau ngực, sốt nhẹ, và mệt mỏi.

Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác nhưng không thường xuyên như gầy sút, xanh xao, buồn ngủ lơ mơ suốt ngày, tim đập nhanh…

Phòng bệnh

Cho trẻ bú mẹ, ăn đủ chất để nâng cao thể trạng. Vệ sinh ca thể, đặc biệt là khu vực tai, mũi, họng cho trẻ hàng ngày.

Tranh các tác nhân gây dị ứng và cách ly trẻ với môi trường khói thuốc, hòa chât hoặc không nên đê trẻ tiếp xúc với chó mèo

Chống hút thuốc và các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí (khói, bụi, không khí bẩn) trong gia đình cũng như nơi làm việc,

Chữa các ổ viêm nhiễm màn tính vùng mũi họng.

Phòng các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ em.

Điều trị sớm và triệt để các viêm nhiễm đường hô hâ’p.

Bệnh viêm phổi

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây nên như vi khuẩn (phế cầu, liên cầu, tụ cầu, hemophilus iníluense, exolĩ, trực khuẫn mủ xanh…), virus (cúm, thủy đậu, sởi, SARS), nấm. ký sình trùng.., Bệnh có thể lây truyền từ ngưòì này sang người khác, từ súc vật sang người. Trẻ em có thê’ bị bệnh sau khi tiếp xúc với người lớn mắc bệnh 2 -3 tuần.

Vĩêm phối đo virus có thể gây thành dịch nguy hiểm, ở trẻ càng nhỏ, dĩên biến bệnh càng nhanh và nặng. Những trê suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV AIDS), có dị tật bẩm sinh về tìm mạch, phổi, lồng ngực; đẻ thiều cân… rất dễ mắc bệnh.

Biếu hiện của bệnh

Các biếu hiện thường rất đa dạng và phức tạp:

Bệnh viêm phế quản ở trẻ nhỏ

tóc trên, cha mẹ nên đưa trẻ đến bệnh viện bởi việc chấn đoán và điều trị nâm tóc cần được thực hiện bới bác sĩ chuyên khoa. Tùy theo mức độ bệnh bác sĩ sẽ kê những thuốc trị nâVn tại chỗ như: BSI, kem Miconazol… hay kèm thêm thuốc trị nấm đường uống như Griseoíulvin, Ketoconazol… trong vòng 2 đến 4 tuần hay đến khi xét nghiệm 2 lần liên tiếp (cách nhau một tuần) âm tính.

Việc điều trị nấm cho trẻ thường lâu dài và kiên nhẫn, ngoài ra cần tránh các tác nhân gây bệnh tái phát. Vì vậy, khi con bị nấm tóc, các bậc phụ huynh cẩn tuân thú chế độ điều trị và cho bé tái khám sau mỗi đợt điều trị mói có kết quả cao.

Cách phòng bệnh nấm tóc?

Bệnh chủ yếu lây do sự tiếp xúc trực tiếp như dùng chung lược, mũ, khăn quàng. Vì thế cha mẹ nên:

– Nên cho trẻ sử dụng lược, mũ, khăn riêng và nếu phát hiện ra trẻ bị nâítĩì tóc cần cách ly và điều trị kịp thòi để tránh lây lan cho những trẻ khác.

1 Không nên tự ý mua thuốc về bôi lên da đẩu trẻ vì dễ gây tai biến.

Bệnh viêm phế quản

Bệnh viêm phế quản thường gặp ở trẻ em trong đó niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm. Niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phổng và dẩy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiếu phế quản. Nếu để lâu, viêm phế

Binh Minh biên soạn

quản ớ trẻ em sẻ đẽ lại những biến chứng nguy hiểm như suy hồ hấp.

Viêm phế quản là gì?

Viêm phế quản là tình trạng viêm của các ống thở lớn được gọi là “phế quản”. Nó thường được gây ra bời virus. Viêm phế quản cũng có thể xảy ra ở trẻ em có nhiễm trùng xoang mãn tính, dị ứng. Bệnh viêm phế quản được đùa làm 2 thể:

Viêm phế quản cấp

Viêm phế quản mãn tính (Viêm phê quản mãn tính là ho khạc lâu ngày, ít nhất là 90 ngày trong một năm và đã kéo dài 2 năm liên tục, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác như lao, giãn phê’quản…).

Nguyên nhân

Chú yếu là sự xâm nhập của vi khuẩn và sự suy giảm khả năng để kháng của cơ thế

Trẻ bị viêm phế quản là do thay đổi thời tiết, nhiễm trùng đường hô hấp.

Vi rút là thủ phạm chính gây nên các chứng bệnh thường thấy ở trẻ nhỏ như cảm lạnh, ho, cảm cúm hay viêm xoang. Sau đó nêu không được chữa trị kịp thời chúng có thể lây lan tới hai cuống phối (bộ phận nôì cổ họng và hai lá phổi với nhau), rất nguy hiểm. Chúng sẽ làm cho khí quản sưng phồng, tây đỏ và một phần dịch nhẩy trong phôi bị ứ đọng lại.

Bệnh nấm tóc ở trẻ nhỏ

Trong thời gian trẻ bị tiêu chảy, cần đám bão dinh dưỡng đẩy đù; trẻ còn bú mẹ thì tiếp tục cho bú bình thường; trẻ dưới 6 thảng tuổi nuôi bằng sữa bò thì pha loãng sữa bằng một lượng nưỏc gâp đôi bình thường trong hai ngày, sau đó pha như thường lệ trong suốt thời gian bệnh. Những trẻ đã ăn dặm thì nấu kỹ thức ăn, nhuyễn và hơi lòng hơn bình thường, cứ 3-4 giờ cho bé ăn một lần, chia làm 6 bữa trong ngày.

Sau khi trẻ hết tiêu chảy, cần phải cho trẻ ăn thêm một bừa mỗi ngày trong hai tuần nhằm phục hổi tình trạng dinh dưỡng cho trẻ; Cần tránh tập quán sai lầm như bắt trẻ nhịn ăn, nhịn uống khi tiêu chày, chi được uống nước gạo rạng cầm chừng. Không bắt trẻ kiêng các loại thức ăn giàu năng lượng, bô dưỡng vì sợ không tiêu.

Nếu sau 2 ngày, tiêu chảy không giảm hoặc bé có một trong các triệu chứng như sốt cao hơn 38°c, môi khô, da khô, khát nhiều nước, ăn kém hay bỏ ăn, đi tiêu ra máu, nôn ói nhiều thì phải mang đi khám ngay.

Đề phòng tiêu chảy ở trẻ em, điểu căn bản là sử dụng nước sạch cho sinh hoạt ăn uống, rửa tay trước khi ăn, khi chê’biến thức ăn và sau khi đi tiêu. Sử dụng cầu tiêu hợp vệ sinh và xử lý phân trẻ nhỏ an toàn.

Bệnh nấm tóc

Nguyên nhân

Bệnh nấm tóc chủ yếu do hai loại vi nấm sợi tơ là Microsporum và Trychophyton gây ra. Nấm có thể gây bệnh ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ em, đặc biệt từ 5-6 tuổi đối 14-15 tuổi. Tùy theo tác nhân mà biếu hiện bệnh khác nhau. Bệnh chủ yếu lây do sự tiếp xúc trực tiếp nhu dùng chung lược, mũ, khăn quàng.

Nấm tóc do Microsporum

Biếu hiện: Da đẩu xuât hiện những mảng rụng tóc kích thước 2-6 cm có dạng hình bầu dục. Những mảng rụng tóc này có thê hợp lại với nhau tạo ra một mảng lớn hình đa cung. Da đầu vùng sang thương phủ vẩy trắng xám còn tóc thì bị gãy cách da đầu 3-4 mm, dễ nhổ, chân tóc có bào tử nâm trắng như bột bao quanh trông giống như mang bít tất. Loại nấm tóc này ít khi có nâín vùng da trơn đi kèm và sang thương phát huỳnh quang màu xanh lá cây dưới ánh sáng đèn Wood.

Nấm tóc do Trychophyton

Biểu hiện: Da đầu có những mảng rụng tóc có kích thước nhỏ vài milimet, giới hạn không rõ, số lượng nhiểu thường trên 6 mảng. Tóc bệnh xen lẫn với tóc lành, tóc bệnh gãy ngắn còn 1-2 min, đôi khi bị xén cụt chi còn một điểm đen. Tóc bị biến dạng cong hình chữ s, z. Sang thương không phát huỳnh quang dưới ánh sáng đèn VVood và thường có nấm vùng da trơn đi kèm như nấm bẹn, mông hay có thể kèm cả nấm móng tay chân.

Thuốc điều trị nấm tóc ở trẻ

Khi trẻ có những biểu hiện của một trong hai loại nấm

Bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ

phát. Trong nhiều trường hợp, trẻ vẫn ăn, chơi bình thường làm cho người mẹ không để ý, đến khi đậu mọc mới biết hoặc tình cờ phát hiện được một vài nốt ở đầu. Khi phát bệnh trẻ sẽ có các triệu chứng chóng mặt và sốt nhẹ. Đặc biệt là trên người nổi mụn, bắt đẩu ở thân, rồi đến mặt, quanh miệng và da đầu. Những mụn nhỏ độ vài milimét, có chứa một chất lỏng bên trong, sẽ khô lại sau 48 giờ và hình thành vảy. Chừng 5-6 ngày sau, vảy sẽ bong ra để lại trên da một cái sẹo lâu độ vài tuần. Nhũng mụn nhỏ có chứa virút bên trong nên dễ lây sang người khác. Hiện tượng mụn nổi lên kéo dài 2-3 ngày, gây ngứa khiến các bé muốn gãi làm xước da, gây nhiễm trùng và các mụn lâu đóng vẩy. Thông thường, sau 15 ngày phát bệnh thì các bé khỏi.

Thủy đậu là bệnh nhẹ. Trường hợp mụn nổi nhiều, trẻ có thể bị sô’t cao nhưng rồi cơn sốt sẽ qua đi. Gùng đôi khi có trường hợp bệnh ảnh hưởng tói vùng tiểu não và hệ thần kinh làm trẻ đi lảo đảo trong thòi gian bệnh đang phát triển. Bệnh có thể kéo dài thêm một ít nhưng cũng khỏi sau vài tuần.

Giải pháp

Trong thời gian cháu bé bị thủy đậu, việc chính là giữ gìn vệ sinh cho cháu: cắt móng tay và giữ sạch, không đế cháu gãi để tránh nhiễm trùng da và lây lan sang cháu khác, mặc quần áo rộng và nhẹ. Không cẩn xoa phân và chi tắm sau khi đã hết mụn. Nếu cần, chi bôi thuổc sát trùng lên những vẩy hoặc mụn to nhất. Bác sĩ có thế cho

Binh Minh (biên soạn)

các bé uống một ít thuốc an thần để cháu dễ ngủ, khỏi quấy và gãi vì ngứa. Khi khỏi hăn, bạn mới nên cho trẻ đi học trở lại.

Bệnh tiêu chảy

Nguyên nhân

Tiêu chảy là bệnh thường gặp ở tré nhỏ. Tiêu chảy gây mất nước và một số chất điện giải như natri, kali…; sau tiêu chảy, trẻ em thường bị suy dinh dưỡng.

Giải pháp

Khi trẻ bị tiêu chảy, bạn là người đầu tiên chăm sóc và là người chủ yếu trong việc điều trị trước khi bệnh quá nặng phải đưa đi bệnh viện. Đầu tiên phải nghĩ ngay đến ORS (OralRehydratatìon Solution: dung dịch bù nước bằng đường miệng). Đây là dung dịch đế bù nước và chất điện giải tốt nhất, được sản xuất trong nước dưới dạng gói bột và được bán không cần đơn tại các nhà thuốc tây.

Nếu không có sẵn dung dịch ORS, bạn có thể chắt nước cơm hay nước cháo ra, cứ một chén nước pha với một nhúm muối trong ba ngón tay, cho bé uống thay thế. Nước tinh bột tốt hơn nước đường muổỉ vì vào đến ruột, tinh bột được biến thành glucose từ từ và được hập thu nhanh chóng nên nồng độ thẩm thâu của dịch ruột được duy trì ờ mức an toàn.

Không nên cho bé uống các loại súp cộng nghiệp, cũng không dùng các loại nước hoa quả, giải khát quá ngọt sẽ gây tiêu chảy thẩm thấu.

Bệnh thủy đậu ở trẻ nhỏ

Chăm sóc sức khỏe gia đình

bệnh biếu hiện nặng hơn. Sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi.

Trẻ dưới 12 tháng tuổi nếu không tiêm phòng sởi thì rất dễ mắc bộnh. Trẻ được nuôi dưỡng kém, đặc biệt trẻ không được uống vitamin A, sống trong điều kiện đông đúc, và trẻ có hệ miễn dịch giảm do AIDS hoặc các bệnh khác thường mắc sởi nặng.

Nhũng người khỏi bệnh có miễn dịch trong suốt quãng đời còn lại. Tré nhỏ có mẹ đã mắc sởi thường có miễn dịch trong 6-8 tháng đầu sau khi sinh.

Triệu chứng

Giai đoạn ủ bệnh từ 7-18 ngày. Biểu hiện nhiễm trùng đầu tiên là sốt cao kéo dài 1-7 ngày. Giai đoạn này, người bệnh thường chảy nước mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt và xuất hiện nốt trắng nhỏ bên trong má. Sau vài ngày sẽ xuất hiện ban, bắt đẩu từ mặt, lan xuống tay và chân trong khoảng 3 ngày. Ban kéo dài 5-6 ngày rồi biến mất. Ngoài ra người bệnh có thê’ chán ăn và tiêu chảy, đặc biệt là trẻ nhỏ.

Thể bệnh nặng hay xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ có thê’ bị mất nưóc do tiêu chảy, có thê’ bị viêm tai giữa, nhiễm trùng đường hô hâp và thanh quản do virus sởi làm giảm hệ miễn dịch.

Giải pháp

Cách phòng bệnh hiệu quả nhất là tiêm vắcxin sởi cho

Bình Minh biên soạn

tré. Trẻ em cần tiêm một mũi vắcxin sởi trước khi 1 tuổi. Nhừng tre thê bệnh nặng có thề qua khỏi nếu được điểu trị thích hợp. Tât cả những trẻ bị sởi nặng cần được uổng vi ta min A càng sớm càng tốt và uống liều thử 2 ngay ngày hôm sau. Tầng cường dinh dưỡng và điều tri mât nưóc bằng đường uống cũng là biện pháp cần thiêV giúp trẻ nhanh khòi bệnh.

Bệnh thủy đậu

Nguyên nhân

Thúy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do vi rút Varicella zoster gây ra. Bệnh thường nhẹ nhưng rất dễ lây.

Người bệnh là nguồn lây duy nhất. Người ốm làm lây bệnh ngay từ khi có triệu chứng đầu tiên cho đến khi nốt đậu đóng váy (thường ở ngày thử 7 kê từ khi đậu mọc). Virút từ đờm đãi, nước mủi, nước bọt trẻ ốm bẳn sang người lành khi nói, ho hoặc hắt hơi, xâm nhập vào cơ thể qua mũi – họng, rồi theo đường máu đên cư trú ở lớp tế bào thượng bì da và niêm mạc và gây nên những nốt phỏng ở đó.

Tuổi mắc nhiều nhất là 2-7 tuổi, ít khi gặp ở trẻ dưới 6 tháng. Người lớn cũng có thể mắc bệnh nếu như lúc nhỏ chưa mắc.

Triệu chứng

Sau một thời gian ủ bệnh chừng 14-15 ngày thì bệnh

Bệnh uốn ván ở trẻ nhỏ

xuất hiện rụng tóc sau vùng gáy tạo hình thành hình vành khăn, chậm mọc răng, chậm biết lẫy, biết đi, biết bò hay biết đứng…Các biểu hiện ở xương như bờ thóp rộng, thóp mềm, lâu kín, có các bướu đinh, bướu trán hay là đầu bẹp cá trê. Nhiều trường hợp trẻ bị còi xương nặng.

Giải pháp: khi trẻ nhỏ có các biểu hiện trên, nên cho trẻ đi khám ở các cơ sở y tế để bác sỹ hướng dẫn bổ sung vitamin D và canxi… cho trẻ. Trẻ em hàng ngày bình thường cũng cần được tắm nắng, ăn thức ăn có đủ chất canxi photpho để phòng tránh bệnh. Một số thực phẩm sẵn có chứa nhiều canxi có thể dùng cho trẻ ăn như vừng, sữa chua, cua, tép, ốc, tôm, cá mè,…

Bệnh uốn ván

Đây là bệnh gây chết người và ở việt nam đã có thuốc tiêm phòng ngừa. Thông thường trẻ được tiêm ngừa vào tháng tuổi thứ hai

Nguyên nhân

Những ví khuẩn gây bệnh uốn ván ở khắp mọi nơi: trong đá bụi, phản người và súc vật… Bởi vậy, khả năng nhiễm bệnh đối với mọi người đểu rất lớn. Phần lỏn trường hợp chì vì giẫm phái một cải đinh ri, mẳc chân vào

Bình Minh biên soạn

một sợi dây kẽm gai, bị một cáì dám đâm vào ngón tay, bị xước tay vì một đồ chơi cũ đã để lâu ngày, Vết của côn trùng cắn, vết răng của chỏ, mèo cũng có thế là nơì xâm nhập cúa loại vi khuấn uốn ván. Vết thương không cần sâu hay rộng vẫn có thể nhiễm trùng uốn ván.

Triệu chứng

Trẻ bị uốn ván thường có những biêu hiện: Từ 5 tới 14 ngày sau khi bị nhiễm bệnh (sau khi giẫm phải đình), đưa trẻ bị cứng bắp thịt, đặc biệt là ở cổ và hàm. Nạn nhan toát mổ hôi, càng ngày càng khó mở miệng, khó nuốt, đau đẩu, đau chân tay, người run ray, sốt rồi bị co giật hoặc uốn cong người. Trường hợp hiện tượng các băp thịt bị co cứng lan ra toàn thân, cha mẹ cần chuyến ngay trê tơi trung tâm y tế.

Giải pháp

Khi trẻ bị thương, dù vết thương to hay nhò, bạn cũng cần phải rửa sạch và sát trùng cho bé. Việc cỏ phải tiêm phòng thêm nữa hay không sẽ do bác sĩ quyết định, dù bé đã được tiêm phòng rổi. Đối với trẻ chưa tiêm ngừa, bạn nên đưa bé đi tiêm phòng và theo dõi việc tiêm đú liều cho trẻ.

Bệnh sởi

Nguyên nhân

Bệnh do vi rút sỏi gây ra và thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi. Bệnh sởi có thể gặp ở mọi lứa tuối, nhưng ở trẻ em

Bệnh còi xương ở trẻ nhỏ

chăm sóc sức khoẻ gia đình…
chênh nhau khá lớn, cơ địa nhiều người, nhất là trẻ em không thích ứng kịp và nếu không phòng tránh tô’t thì râ’t dễ bị viêm tai mũi họng cấp.

Do đó, nếu thây trẻ có biểu hiện viêm mũi I họng dị ứng, hắt hơi nhiêu, xuất hiện mú đặc, phụ huynh nên chú ý hút mũi, xông họng đê làm sạch đường thớ, giảm bớt chất nhẩy tồn đọng, hỗ trợ quá trình lành bệnh.

Tuy nhiên, các bác sĩ củng khuyến cáo không nên lạm dụng các đụng cụ hút mũi, xông họng, vì việc xông mũi I họng chủ yếu tác động vào xoang mũi, nên nếu xông kéo dài, nhiểu lẩn sẽ gây hỏng niêm mạc vùng mũi I họng của trẻ vổín chưa phát triển hoàn thiện.

Với trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi, sức đề kháng còn yếu, đế phát hiện sớm các đâu hiệu mắc bệnh, các bậc cha mẹ cẩn lưu ý khi cho trẻ bú (bú ít, khóc khi bú…); hoặc trẻ thở nhanh hơn, ngực lõm hơn, đầu gật gù, cánh mũi ưẻ phập phổng, nở ra; thậm chí trẻ ngủ nhiều hơn bình thường. Khi thây trẻ có những dâu hiệu này cha mẹ cần đưa trẻ đi khám đế phát hiện và điều trị kịp thời, tránh những biến chứng đáng tiêc có thê xảy ra.

Lưu ý giữ ấm cho trẻ, nhất là buối sáng và tối, vì có thế nhiệt độ mát, dễ chịu, nhumg biên độ nhiệt trong ngày chênh lệch lớn. Tre cũng dễ bị lây chéo bệnh từ người lớn trong gia đình, nén cha mẹ cũng cẩn lun ý phòng bệnh cho chính minh, táng cường uống nhiểu nước.

Tránh đưa trẻ đên chỗ đông người, khi ra ngoài đường cẩn đeo khấu trang… Bên cạnh đó, vì thời tiết hanh khô nên cẩn cho tré uống nhiêu nước và ăn uống đủ chất.

Chăm sóc trẻ nhỏ là một công việc khó khăn. Nó đòi hói ở người cha, người mẹ không chí những kiến thức khoa học mà cả nhũng kinh nghiệm mà bạn không thế có ngay lập tức trong nhũng ngày đầu làm cha mẹ. Và vì thế bạn sẽ rất bỡ ngỡ, bối rối khi làm mẹ lần đẩU/ nhất là khi phái chăm sóc con nhỏ bị bệnh. Nhưng nếu bạn có những kiến thức nhất định về một số bệnh thường gặp ở trẻ, bạn sẽ thấy tự tin hơn.

Bệnh còi xương

Nguyên nhân

Trẻ bị còi xương là do cơ thể thiếu hụt vitamin D. Điều đó làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, chuyển hóa can-xi và phốt pho (là những châ’t cần thiết cho sự phát triển của xương). Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là do các bà mẹ kiêng khem quá mức, không cho trẻ ra ngoài, nên trẻ sẽ bị thiếu ánh sáng mặt trời. Bên cạnh đó là một chế độ ăn nghèo can-xi/ phốt pho. Những trẻ không được bú sữa mẹ, đẻ non, đẻ sinh đôi, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông thường dễ có nguy cơ bị còi xương.

Triệu chứng

Khi bị bệnh, trẻ thường quây khóc, ngủ không yên giấc, giật mình, ra nhiều mổ hôi lúc ngủ. Theo dõi tré thây

Phòng tránh những bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ

Những bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ và cách phòng tránh chúng

Bệnh hô hấp

Dấu hiệu nhận biết

– Sốt: có thể sốt nhẹ (38°C) hoặc sốt cao (39°c – 40°C).

– Ho: CÓ thể ho khan, ho có đờm, ho từng cơn hoặc ho liên tục.

– Quấy khóc, đau đầu (trẻ lớn), sổ mũi.

– Rối loạn tiêu hóa: nôn ói, đau bụng, chưởng bụng, biếng ăn, tiêu chảy.

– Dấu hiệu suy hô hâp như: khó thở, nhịp thở tăng so với lứa tuổi; rên, cánh mũi phập phổng, co kéo các cơ hô hấp; tím tái ở môi và các đầu chi; li bì hoặc mê sảng.

Khi thây trẻ có triệu chứng sốt cao, ho nặng tiếng, thở nhanh hon hoặc khó thở, trẻ li bì, bỏ ăn uống, khóc quấy nhiều là dấu hiệu bệnh nặng, cha mẹ cần nhanh chóng đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế đế được bác sĩ khám, tư vấn và điều trị kịp thời.

Những biến chứng nguy hiểm

Theo các bác sĩ, các bậc cha mẹ thường chủ quan cho rằng các bệnh lý về tai mũi họng rất đơn giản mà ít ai biết được rằng những bệnh lý này có thể gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm. Những biến chứng tại chỗ như áp xe, áp xe thành họng, áp xe amidan, trẻ nhỏ có thể áp xe viêm tấy quanh họng.

Những biến chứng gần có thể gây ra viêm mũi, viêm xoang, viêm tai giữa. Ngoài ra viêm họng còn lan xuống thanh quản gây ra viêm thanh quản, viêm phế quản hay viêm phồi.

Các biến chứng xa có thể gây viêm khớp, viêm màng tim, viêm cầu thận…

Cách phòng bệnh hô hấp ở trẻ nhỏ

Phải cho trẻ đi khám ngay khi có dấu hiệu bệnh nặng

Thời gian qua có nhiều trẻ nhập viện trong tình trạng nặng suy hô hấp , nguyên nhân là do bố mẹ chủ quan, ít quan sát tới tình hình bệnh tật của con

Nhiều trẻ dưới 6 tháng tuổi phải nhập viện phải thở bằng máy

Phòng bệnh cho trẻ khi giao mùa

Thời tiết giao mùa, biên nhiệt độ trong ngày thay đổi thất thường và liên tục

page 306