Khả năng tiêu hóa, hấp thu ở người cao tuổi

người có tuổi sẽ ăn ít đi so vói lúc còn trẻ. Nếu vẫn thấy ngon miệng và ăn quá nhiều thì sẽ dễ mắc bệnh béo phì.

Về nhu cầu chất bột đường:

Sự dung nạp chất bột đường ở độ tuổi này cũng bị giảm nên sẽ dê bị tăng đường huyết nếu chế độ ăn giàu bột đường, nhất là các loại đường hấp thu nhanh. Cụ thể, nên hạn chế các loại đường mía, bánh kẹo, nước ngọt…; nên sử dụng các loại ngũ cốc và tinh bột như cơm, bún, mì, nui, khoai… Các loại khoai củ vừa dễ tiêu hóa lại giàu chất xơ chông táo bón. Đổi với gạo thì chỉ cần chọn gạo dẻo, không mổc và không chà xát quá trắng là được. Loại gạo đỏ (gạo lức) là tốt nhât vì giàu vitamin B1 và nhiều chất xơ.

Về nhu cầu chất béo:

Men giúp ly giải mô mỡ ở người cao tuổi cũng giảm hoạt động nên dễ có khuynh hướng thừa mỡ trong máu tạo các mảng xơ làm cứng thành mạch gây ra cao huyết áp. Vì thê’ người cao tuổi nên hạn chế chât béo đặc biệt là mõ động vật và nên thay bằng dầu thực vật. Người có tuổi không nên ăn nhiều thức ăn động vật, lòng đỏ trứng, phủ tạng vì có nhiều cholesterol. Thông thường, người có tuổi có thể ăn 3 quả trứng/ tuần nhưng đối với người có cholesterol máu cao chỉ nên ăn một lòng đỏ trứng/ tuần. Tuy nhiên, cũng không nên ăn quá ít chất béo (nhất là chế độ ăn của người dân ở các vùng nông thôn ngoại thành) bởi vì cholesterol là chất tham gia cấu tạo màng tế bào, thừa cholesterol sẽ dễ gây vữa xơ động mạch và tắc mạch não nhưng thiếu cholesterol cũng sẽ làm màng tế bào yếu dễ gây xuất huyết não nếu có cao huyết áp đi kèm Cholesterol kết hợp với acid béo và protein tạo ra cholesterol tỉ trọng thấp (LDL-C), và cholestero] tỉ trọng cao (HDL-C). Loại LDL-C dễ gây vữa xơ động mạch, trong khi HDL-C thì lại có tác dụng bảo vệ tim mạch. Ăn thức ăn nguồn gốc động vật dễ làm tăng cholesterol có hại, vận động thể lực nhiều như đi bộ thường xuyên thì sẽ làm tăng choles-terol có lợi cho cơ thể.

Về nhu cầu chất đạm:

Khả năng tiêu hóa, hâp thu và tổng hợp chất đạm ở người cao tuổi đều kém nên dễ xảy ra tình trạng thiếu đạm. Quá trình phân hủy đạm tại ruột già (nhât là đạm từ thịt) tạo ra các chất thải thối rữa và là những độc tố, nếu táo bón lâu ngày sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. Do đó, người có tuổi nên hạn chế các loại thịt nhâ’t là thịt mỡ. Thay vào đó, nên ăn cá vì cá chứa nhiều đạm dễ tiêu hoá lại có thêm một số acid béo cần thiết cho cơ thể. Cụ thể là: 1 tuần có 7 ngày thì ít nhất nên có 3 ngày ăn cá. Tăng nguồn đạm thực vật như đậu hủ, tàu hủ ki, sữa đậu nành, đậu đũa, đậu hà lan, đậu cô-ve…

Về nhu cầu nước và vi chất:

Người có tuổi cũng dễ bị thiếu nước do ít cảm thây khát nước. Do đó, nên uống nước thường xuyên dù không khát nhât là vào mùa nóng. Hoạt động tiêu hóa và

Dinh dưỡng hợp lý ở người cao tuổi

Không nên chờ khi khát mới uống nước. Hãy chú động uống đủ lượng nước mà cơ thể cần.

Hạn chế ăn đồ lạnh

Nhiệt độ thích hợp cho đồ ăn bằng chính nhiệt độ của cơ thể. Điều này giúp các thức tiêu hoá dễ dàng sau khi vào cơ thể. Các món ăn lạnh có thế dẫn đến một số vấn để về đường ruột.

2. Dinh dưỡng hợp lý ở người cao tuối

Sự giảm sút sức khỏe ớ người cao tuổi là do sự thay đối cơ thể trong quá trình tích tuổi. Trước khi muốn biết người cao tuổi nên ăn uống như thế nào cho hợp lý thì chúng ta cần hiểu sự thay đổi thể chất ở người cao tuổi.

Con người ăn uống được ngon miệng trước tiên là nhờ đến các giác quan. Nhờ khứu giác nên ngửi được mùi thơm của thức ăn, thị giác giúp nhìn thấy màu sắc thức ăn thật hấp dẫn, cầm chén thức ăn nhờ xúc giác mà biết thức ăn ấm nóng hoặc mát lạnh, nhờ vị giác mà biết được thức ăn chua, cay, mặn, ngọt như thế nào đế mà thưởng thức cái ngon của thức ăn. Chính những giác quan đó đã kích thích nước bọt tiết ra để sẵn sàng tiêu hóa thức ăn. Nhưng người cao tuổi thì mắt không nhìn ro’ mùi ngửi kém, vị giác và xúc giác không nhạy nên ăn uống thường kém ngon.

Một số người cao tuổi khoẻ mạnh thì có thể vẫn thấy là thèm ăn nhưng với người yếu hơn thì hay có cảm giác chán ăn do giảm cảm giác đói. Đã chán ăn mà nhai nuốt lại khó do cơ nhai và xương hàm đều teo, răng thì lung lay… nên người cao tuổi lại càng lười ăn hơn nữa như vậy thì lại càng dễ bị suy dinh dưỡng hơn. Các tuyến nước bọt cũng teo nên hoạt tính tiêu hóa của nước bọt cùng giảm sút. Do đó, thức ăn cho người cao tuổi cần phải mềm đế dễ nhai nuốt nhưng không nên xay nhuyễn vì sè làm giảm mùi vị ngon của thức ăn. Trường lực và sức co bóp dạ dày cũng giảm nên dễ bị sa dạ dày, giảm bài tiết dịch vị nên tiêu hóa thức ăn kém. Vì vậy, ngưòi cao tuổi không nên ăn quá no để tránh tăng gánh nặng hoạt động của hệ tiêu hóa. Nhu động ruột ở người cao tuổi cũng giảm nên dễ bị táo bón, mà táo bón kéo dài thì các vi sinh vật gây thốỉ rửa trong ruột sẽ phát triển làm đầy hơi, đầy hơi lâu ngày sẽ đẩy cơ hoành lên cao gây khó thở, ảnh hường đến hoạt động của cơ tim. Đầy hơi trong bụng cũng làm giảm cảm giác thèm ăn. Như vậy, chỉ một bộ phận của bộ máy tiêu hóa kém hoạt động sẽ gây ra rất nhiều phiền toái cho người cao tuổi. Tuy vậy, đôi với người có tuổi khỏe mạnh, hệ thần kinh hoạt động tốt thì dù cỏ các suy yếu trên thì cơ thể vẫn có khả năng điều chinh và thích nghi, người cao tuổi vẫn có thể ăn uống, tiêu hóa bình thường.

Về nhu cầu năng lượng:

Do người có tuổi hoạt động thể lực ít, khối cơ bắp cũng giảm khoảng 1/3 so với thời trẻ nên nhu cầu năng lượng cũng giảm bớt, chí khoảng 1700-1800kcal/ngày. Vì thế

Không gian ăn uống

Hàm lượng đường trong rau xanh và hoa quá giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và tim mạch. Nên hạn chế ăn các loại đường tinh chế.

Đa dạng hoá các loại thực phẩm

Không có loại thực phẩm đa chức năng có thể cung cấp đú các chất dinh dưỡng cho cơ thế hàng ngày, vì vậy cần đa dạng hoá các loại thực phẩm trong bữa ăn. Sự đa dạng hoá thể hiện ở việc kết hợp một cách khoa học giữa các nhóm thực phẩm như: tinh bột, chất béo, chất xơ, chất đạm… hay là sự kết hợp giữa khối lượng và màu sắc thực phẩm.

Đồ ăn cần có độ mềm

Do khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn kém khi về già nên bữa ăn của người cao tuổi cần có độ mềm thích hợp. Thức ăn nên chế biến theo phương pháp hấp, luộc, hầm hoặc kho. Việc lựa chọn thực phẩm cũng cần chú ý tránh chọn các thực phẩm có kết cấu thô hoặc cứng. Các loại thịt mềm, thịt cá, sữa hoặc trứng là thức ăn tốt nhất cho người già.

Nên ăn nhạt

Ăn mặn có thể gây nên nhiều loại bệnh nguy hiển như: tím mạch, huyết áp… Vì thế, người cao tuổi nên ăn nhạt. Các nhà khoa học khuyên người cao tuổi nên ăn không quá 6g muối/ ngày. Thực đơn lý tường cho người già hàng ngày là: 150-250g ngũ cốc và tinh bột, 100g thịt nạc, cá hoặc tôm, 50g đậu và các chế phẩm từ đậu, 300g rau xanh, 250g hoa quả tươi, 250ml sữa, 30g dầu ăn, 6g muối, 25g đường và khoảng 2000ml nước.

Nên ăn chậm

Các bữa ăn của người già thường diễn ra với tốc độ chậm hơn. Điều này đặc biệt tốt cho hệ tiêu hoá và việc hấp thụ các chất dinh dưỡng trong các món ăn.

Việc ăn chậm cũng giúp nước bọt tiết ra nhiều hơn làm mềm thức ăn, có ích cho quá trình nuốt thức ăn. Không những thế, nước bọt còn có chất Immunoglobulin giúp tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thế và các protein có nhiệm vụ bảo vệ niêm mạc dạ dày,

Chú ý đến không gian ăn uống

Màu sắc bắt mắt, mùi vị thơm ngon và sự khéo léo trong cách trình bày món ăn có tác dụng rât lớn trong việc kích thích vị giác ăn uống cho người cao tuổi, giúp họ ăn nhiều hơn và ngon miệng hơn.

Ngoài ra, cũng cần chú ý đến sự yên tĩnh, sạch sẽ của phòng ăn.

Uống nhiều nước

Nước lọc, nước khoáng, nước ép hoa quả, các loại trà như: trà xanh, trà hoa cúc… đều là những loại nước tốt cho sức khoẻ của người già.

Việc tăng cường nước cho cơ thê’ củng giúp làm chậm quá trình lão hoá của các tế bào trong cơ thể nhất là các tế bào da, từ đó giúp cân bằng độ ấm, ngăn chặn hiện tượng nhăn da ớ người cao tuổi. Nước còn rất tốt cho hoạt động của thận và có thể làm giảm hiện tượng táo bón và các rối loạn của quá trình trao đối chất cho cơ thế.

Những thực phẩm tốt cho người cao tuổi

Càng về già, con người phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh càng cao, chính vì thế cần phải chủ động phòng ngừa đế có sức khỏe tốt và thần kinh minh mẫn. Ngoài cách siêng năng vận động cơ thể, việc điều chinh chế độ ăn uống và bổ sung lượng dinh dưỡng phù hợp là một phương pháp vô cùng hiệu quả.

1. Những nguyên tắc ăn uống lành mạnh cho người cao tuổi

Bước vào giai đoạn lão hoá, hệ tiêu hoá của người già thường kém, nên dễ chán ăn, từ đó ảnh hưởng tới sức khoẻ. Dưới đây là một số nguyên tắc ăn uống lành mạnh để người cao tuổi có thể duy trì được sức khoẻ tốt.

Ưu tiên các loại rau và hoa quả

Rau xanh và hoa quả là những loại thực phẩm không thể thiếu trong chế độ dinh dưỡng của người cao tuổi. Hàm lượng chất xơ cao trong các loại rau xanh giúp hệ tiêu hoá hoạt động dễ dàng hơn. Ngoài ra, các loại vitamin, khoáng chât và các axit hữu cơ có tác dụng kích thích sự thèm ăn và duy trì sự cân bằng các hoóc món trong cơ thể.

Chia làm nhiều bữa nhỏ

Sự bài tiết dịch vị dạ dày ở cơ thể người cao tuổi thường giảm, vì thế việc hấp thụ các chất như can-xi, sắt cũng trỏ nên kém hơn và quá trình tiêu hoá thức ăn cũng dài hom.

Việc chia nhỏ các bữa ăn trong ngày giúp làm giảm “áp lực” cho dạ dày và giúp hệ tiêu hoá hoạt động dễ dàng hơn. Vì thế, người cao tuổi nên chia 3 bữa ăn chính trong ngày thành 4-5 bữa nhỏ, đổng thòi khoảng cách giữa các bữa ăn nên đều nhau và đúng giờ.

Đối với những người mắc bệnh tiếu đường, việc chia nhỏ bữa ăn hàng ngày càng quan trọng hơn vì các bửa chính không được bổ sung đủ lượng gluxit. Thêm các bữa ăn phụ trong ngày sẽ đảm bảo các dưỡng chât cẩn thiết cho cơ thế.

Chú ý hơn tới chất lượng bữa ăn

Chất lượng bữa ăn không đổng nhất với số tiền bỏ ra. Những thực phẩm giàu dinh dưỡng như: sữa, trứng/ các chế phẩm từ đậu nành… rất tốt cho người cao tuối.

Ngoài ra, người già nên hạn chế ăn thịt tăng cường ăn cả, chế biến thức ăn theo cách hấp hoặc luộc đế đảm bảo hàm lượng các vitamin và khoáng chất được giữ lại nhiểu nhất trong thực phẩm, tránh xa các loại đổ ăn chiên rán chứa nhiểu dầu mờ.

Cách phòng ngừa bệnh Alzheimer

sao Beta Amyloid lại gây tổn thương não trong bệnh Alzheimer và đã phát hiện ra sự xuất hiện của các gốc oxy tự do. Sự xuất hiện nhiều chất này sẽ làm tổn thương tế bào thần kinh. Ngoài ra, một số yếu tố khác như gene, giảm hoóc môn sinh dục nữ, môi trường, sự thiếu hụt các vitamin nhóm B, trầm cảm, chân thương đầu… cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bệnh Alzheimer.

Biểu hiện của bệnh Alzheimer

Đó là sự mất trí nhớ, đây là triệu chứng sớm nhât của bệnh Alzheimer ở người cao tuổi. Một số triệu chứng cần quan tâm: mât trí nhớ hoàn toàn; mất tập trung tư tưởng; sụt cân không giải thích được; khó khăn trong việc đi đứng. Những triệu chứng này có thể gặp ở người khỏe mạnh bị lão hóa, tuy nhiên bác sỹ chuyên khoa có thể phân biệt được các triệu chứng này trên người bình thường và bệnh Alzheimer.

Cách phòng ngừa bệnh Ahheimer

Nguyên nhân gây bệnh Alzheimer đến nay vẫn chưa được xác định, do đó chưa có thuốc để điều trị tận gốc.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu, đưa ra một sô’ biện pháp điều trị và phòng ngừa như sau:

– Liệu pháp thay thế hoóc môn cả nam và nữ;

– Dùng thuốc kháng viêm không Steroid;

– Chế độ ăn uống: giảm ăn mỡ, chỉ ăn các loại dầu có lợi, ăn nhiều rau quả sậm màu, đậu nành và uông rượu vừa phải…

– Bổ sung các vitamin chông oxy hóa: Vitamin E, c (chông lại sự giải phóng gốc tự do làm tốn thương tế bào), các Vitamin nhóm B (B12, B5…)…

Bệnh Alzheimer thường được điều trị và chăm sóc bởi những người thân trong gia đình. Do đó, bệnh này tạo áp lực Tất lón về mặt xã hội, tâm lý, sức khỏe, kinh tế với cuộc sống của những người chăm sóc người bệnh. Ở những nước phát triển, Alzheimer là một trong những bệnh gây tốn kém nhất cho xã hội. Cho đến nay, bệnh Alzheimer vẫn không thể chữa khỏi nên để giảm gánh nặng, sự lệ thuộc cho gia đình, người thân, việc phòng bệnh là một biện pháp hữu hiệu mà các nhà khoa học khuyến cáo.

Bệnh Alzheimer

glinide có thể thích hợp hơn sulionylurea đôi với người bênh cao tuổi vì bắt đầu tác dụng nhanh và thời gian kéo dài do đó giảm nguy cơ hạ đường máu.

Làm thế nào để quản lý được bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi?

Quản lý người bệnh ĐTĐ cao tuổi đặt ra những thách thức đặc biệt. NCT thường có nhiều bệnh đồng hành, do đó cần được phát hiện và ưu tiên điều trị theo từng giai đoạn biểu hiện bệnh lý. Tuy nhiên, nguồn tài chính hạn hẹp và tâm lý chán nản, rối loạn nhận thức và trầm cảm ở NCT tạo ra những rào cản đôi với biện pháp quản lý có hiệu quả. Do đó, việc phổ biến kiến thức là một khâu quan trọng trong quản lý NCT bị ĐTĐ.

Những kiến thức về các yếu tố nguy cơ; chế độ dùng thuốc, cách lựa chọn thuốc; hướng dẫn cách tự theo dõi, tự xử lý những cấp cứu ban đầu cho bệnh nhân là việc làm bắt buộc của thầy thuốc đôi với bệnh nhân. Ngoài ra còn cần phải lôi cuốn gia đình, người thân, những người trực tiếp chăm sóc người bệnh vào cuộc để đạt được mục tiêu điều trị cho người bệnh.

7. Bệnh Alzheimer

Alzheimer là bệnh thoái hóa cả não bộ không hồi phục, gây nên chứng sa sút trí tuệ ở người cao tuổi. Tổn thương tê bào thần kinh ở vỏ não và những câu trúc xung quanh làm sa sút trí nhớ, giảm phổi hợp vận động, giảm cảm giác, cảm nhận sai… Cuổi cùng là mất trí nhớ và chức nãng tâm thần. Đây là bệnh gây tử vong cao thứ tư ở người cao tuổi hiện nay, có khoảng 4 triệu người Mỹ và hơn 8 triệu người trên thế giới mắc bệnh này.

Một số yếu tố sau góp phân tăng khả năng mắc bệnh Alzheimer:

– Tuổi: được xem là nguy cơ lớn nhất. Tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng lớn. Bắt đầu từ tuổi 65 thì môi 5 năm có gấp đôi số người bị bệnh Alzheimer.

– Giới tính: Phụ nữ dễ bị hơn nam giới.

– Dân tộc: Người Mỹ mắc nhiều hơn các dân tộc khác.

– Tăng huyết áp và tăng cholesterol máu: Những người bị tăng huyết áp và tăng cholesterol có nguy cơ cao bị bệnh Alzheimer.

Nguyên nhân

Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và thấy rằng người bị Alzheimer có sự mất tế bào thần kinh và giảm thể tích những vùng não chi phối trí nhớ, vùng đảm nhận tâm thẩn kinh.

Một số giả thiết được đưa ra:

Đầu tiên một protein tên là TAU làm thoái hóa các sợi dây thần kinh ngăn cản vận chuyển chất dinh dưỡng nuôi tế bào thần kinh. Tiếp theo sự tích tụ của một protein là Beta Amyloid không hòa tan tạo thành những mảng keo ngăn cản chất trung gian dẫn truyền thần kinh là Acetylcholin cần thiết cho trí nhớ.

– Sự oxy hóa: Nhiều nghiên cứu đã cô gắng tìm hiểu tại sao

Điều trị bệnh đái tháo đường cho người cao tuổi

mỏi… có thể không được nhận thấy và dễ bị bỏ qua. Thậm chí những triệu chứng kinh điển của tăng glucose máu như tiểu nhiều, khát, uống nhiều và ăn nhiều thường được lý giải theo bệnh khác của NCT, ví dụ như: tiểu nhiều lần có thể nhầm là do không nhịn được tiểu vì các vấn đề cơ học của bàng quang theo tuổi tác hoặc do nhiễm trùng tiết niệu.

Tất cả những lý do này làm cho người bệnh ĐTĐ cao tuổi thường đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn rất muộn hoặc với những biểu hiện bệnh lý của các biến chứng khác nhau. Những bệnh hay gặp ở NCT mắc ĐTĐ bao gồm: viêm đau quanh khớp vai, teo cơ, suy kiệt, tổn thương thần kinh ĐTĐ, bệnh lý về da với phỏng nước nội thượng bì.

Một số người bệnh cao tuổi có thể đến bệnh viện với các triệu chứng của các biên chứng mãn tính của ĐTĐ như: mất thị lực, bất thường thần kinh ngoại vi, bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim xung huyết, bệnh mạch máu ngoại vi hoặc bệnh mạch máu não… nhưng ở họ lại không có dấu hiệu tăng glucose máu. Đây là lý do giải thích tại sao tỷ lệ bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán ở nhóm tuổi này thường cao.

Điều trị bệnh ĐTĐ cho NCT

Trước khi điều trị, người bệnh cần được bác sĩ đánh giá về tình trạng hệ tim mạch, hô hấp và cơ xương… để đưa ra chế độ luyện tập hợp lý. Nhiều NCT mắc bệnh ĐTĐ túyp 2 đáp ứng tốt chỉ với chế độ ăn và luyện tập và không cẩn dùng thuốc. Tuy nhiên, người bệnh cần phải được kiểm soát huyết áp, rối loạn lipid máu bằng thuốc nếu chế độ ăn và luyện tập không đáp ứng yêu cầu.

Với bệnh nhân tăng glucose máu có triệu chứng lâm sàng và mức glucose máu cao tổn tại dai dẳng mặc dù đã tuân thú chế độ ăn và chương trình luyện tập, người bệnh sẽ được điều trị bằng thuốc.

Các sulionylurea là các thuôc hàng đầu được sử dụng ở những người không béo. Các sulíonylurea tác dụng ngắn được ưa dùng vì người bệnh cao tuổi dễ bị hạ đường huyết. Thuốc cẩn được bắt đầu bằng liều thấp và tăng dần nếu lượng glucose máu không duy trì được ở mức cho phép. Vói người bệnh thừa cân, béo phì, met-formin thường là thuốc uổng hạ đường huyết hàng đầu được sử dụng hoặc bổ sung vào sulionylurea để hỗ trợ nhằm làm giảm cân nặng.

Metiormin bị chông chỉ định khi có tổn thương tim, thận hoặc gan vì nguy cơ nhiễm toan lactici Các chất ức chế alphagluco-sidase có đặc điểm an toàn; chúng có thể được sử dụng như thuốc hàng đầu, đơn độc hoặc kết hợp với sulfonylurea hoặc metiormin và các chất ức chế alpha glucosidase cần được bắt đầu bằng liều thấp và tăng liều dần dần.

Một số thuốc mới gần đây đã được đưa vào sử dụng trong lâm sàng, một số có ít nguy cơ hạ đường máu hơn và đã được chứng minh là đặc biệt có ích ở người bệnh cao tuổi. Các chất kích thích bài tiêt insulin như

Chẩn đoán đái tháo đường sớm ở người cao tuổi

Những thuốc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những bất thường tiềm tàng về chuyển hóa glucose phát triển thành ĐTĐ lâm sàng. NCT bị mắc bệnh thừa cân, béo phì, đặc biệt béo trung tâm (béo bụng) đã được xem là yếu tố đương nhiên dẫn đến bệnh ĐTĐ tuýp 2.

Thiêu hụt các nguyên tố vi lượng hoặc vitamin cũng có 0gc thể đóng góp vào sự tiến triển của bệnh ĐTĐ tuýp 2.

Bệnh tật và tử vong

Với nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh, việc phát hiện bệnh ĐTĐ ở giai đoạn sớm chính là biện pháp phòng gày bệnh tốt nhất. Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời sẽ làm giảm mức độ hoặc ngăn chặn các biến chứng của bệnh,

Những biến chứng đó thường là giảm thị lực, thậm chí ì sẽ mù lòa do bệnh ĐTĐ, cắt cụt chi dưới do bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh thẩn kinh và bệnh nhiễm trùng, bệnh thiêu máu cơ tim, tai biến mạch máu não và suy thận mạn…

Tất cả đều làm suy giảm chât lượng cuộc sống của người bệnh ĐTĐ cao tuổi.

NCT mắc bệnh ĐTĐ ngay ở thời điểm được chẩn đoán đã đã có 10-20% biến chứng mạch máu nhỏ (võng mạc hoặc bệnh thận); 10% bệnh tim mạch và bệnh thần kinh; bệnh tăng huyết áp và nhồi máu cơ tim còn có tỷ lệ cao hơn… Lứa tuổi này khi mắc bệnh ĐTĐ cũng dễ mắc một sô’ biến chứng cấp tính.

Bù đủ dịch bằng đường uông, vì thế có nguy cơ bị natri, mất nước, hạ huyết áp, tăng áp lực thẩm thấu, ha kali máu (đặc biệt nếu dùng thuốc lợi tiểu), giảm bài tiết insulin và các biến cố tắc mạch. Khi bị nhồi máu cơ tim hoặc nhiễm trùng máu, những người bệnh cao tuổi hay bị sốc, có thể nhiễm toan lactic, đặc biệt ở người mắc ĐTĐ nhung kiểm soát đường huyết kém. Những biến chứng như vậy có thể đe dọa tính mạng người bệnh.

Phần lớn NCT mắc bệnh ĐTĐ là tuýp 2. Một người được chẩn đoán ĐTĐ ở tuổi 65 sẽ làm giảm tuổi thọ từ 4-5 năm và có thể tử vong đột ngột gâp 4,5 lần so với người không mắc bệnh ĐTĐ.

ĐTĐ ở NCT khó được chấn đoán

Để chẩn đoán ĐTĐ sớm ở NCT, đòi hỏi mức cảnh giác cao trước tiên là từ phía thầy thuốc. Nhiều người mắc bệnh ĐTĐ, đặc biệt là ở NCT, không có triệu chứng. Ngay ở thời điểm chẩn đoán ĐTĐ, các biến chứng muộn thường đã có mặt nhưng cũng không xuất hiện triệu chứng. Người bệnh đi khám bệnh chỉ với những triệu chứng không đặc hiệu, thậm chí cả thầy thuốc và bệnh nhân đều coi rằng đó là biểu hiện của “sự lão hóa bình thường”. Ngoài ra, sự suy giảm trí nhớ của NCT cũng gây khó khăn không nhỏ cho việc khai thác bệnh sử hoặc tình trạng đa bệnh lý sẽ làm phức tạp hơn cho chẩn đoán và điều trị.

Trong thực tế, nhiều trường hợp ĐTĐ điển hình vẫn có thể bị bỏ sót. Các triệu chứng như sút cân nhẹ và vừa, mệt. Các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển như do giảm cảm giác khát, NCT luôn ở trạng thái

Bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi

theo chỉ định của bác sĩ, không nên tự ngừng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Khi có bệnh tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc bị đái tháo đường cần kiểm tra huyết áp, mỡ máu và đường máu theo lời dặn của bác sĩ. Tuyệt đôi không tự mua thuốc hoặc dùng đơn thuốic của bệnh nhân khác mua thuốc cho mình. Người cao tuổi nên uống đủ lượng nước cần thiết và không đợi khi có biểu hiện khát mới uống. Nếu nghiện thuổc lá, thuốc lào thì cần hạn chế và tốt nhât là bỏ hẳn. Những người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường không nên uống bia, rượu. Nên tăng cường uổng nước cam, chanh và quả tươi.

Mùa hè cũng cần vận động cơ thể một cách hợp lý. Người cao tuổi nên tập các bài tập nhẹ nhàng hợp với sức khỏe của mình, không nên tập khi mặt trời lên cao, nhiệt độ ngoài trời đã tăng hoặc quá lạnh. Nên ăn nhiều rau, ăn đủ chât, không nên kiêng khem quá mức vì có thể dẫn đến thiếu châ’t dinh dưỡng.

6. Bệnh đái tháo đường ở người cao tuổi

Người cao tuổi (NCT) mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) sẽ gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn trong điều trị. Do những thay đổi đặc biệt về sinh lý và bệnh lý của người cao tuổi (trên 65 tuổi) nên cần có những nghiên cứu riêng về bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi này.

ĐTĐ là một vấn đề ở sức khỏe NCT

ĐTĐ là một trong những bệnh mãn tính thường gặp có ty lệ mắc mói và hiện mắc tăng lên theo tuổi. Ở nhóm người cao tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 7-10% so với cộn đổng chung, chiêm khoảng 40% trong cộng đồng người mắc bệnh. Ngoài ra có khoáng 10% NCT có bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán, không được điều trị và thậm chí có nguy cơ cao hơn về đau ôm dẫn đên tử vong do ĐTĐ. Khoảng 20% NCT có rối loạn dung nạp glucose, có nguy cơ phát triển bệnh mạch máu liên quan đên ĐTĐ. Như vậy, cứ 5 NCT sẽ có 1 người mắc ĐTĐ (đã được hoặc chưa được phát hiện). Nêu tính đêh các rôi loạn dung nạp glucose khác thì 40% số NCT có rối loạn hằng định nội môi glucose ở những mức độ khác nhau.

Cùng vói tiến bộ của y học, tuổi thọ con người ngày càng cao, nhóm người cao tuổi hiện nay chiêm khoang 11% dân số và sẽ tăng 20% vào năm 2021. Sự thay đổi về môi trường sống cũng làm tăng tỷ lệ các bệnh về chuyển hóa se còn làm tăng nhanh tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm tuổi này. Điều này cũng có nghĩa là những nhu cẩu về nguồn lực y tê cũng sẽ tiếp tục tăng cho những người từ 65 tuổi trở lên.

Một số bằng chứng đã nhận định rõ vai trò của yếu tố gen trong bệnh ĐTĐ ở NCT, tuy nhiên những thay đổi liên quan đến tuổi về chuyên hóa carbonhydrat cũng đẵ được ghi nhận. Mặc dù có vai trò rất lớn của gen, nhưng các yếu tố môi trường và lôi sống có thể làm tăng hoặc giảm khả năng nhạy cảm vê’ mặt di truyền, do đó bệnh sẽ phát triển khi tuổi già.

Ngoài ra, NCT thường mắc các bệnh khác và buộc phải dùng nhiều loại thuốc (ví dụ như thuốc lợi tiểu thiazid)

Dấu hiệu đột quỵ

bệnh này hoặc do chủ quan cho rằng bệnh tăng huyết áp là bệnh của người già, hoặc không có điều kiện tìm hiểu về căn bệnh mà người ta gọi là bệnh “giết người thầm lặng”. Mùa hè, nắng nóng kéo dài khiến người cao tuổi đang mắc bệnh tăng huyết áp rất khó kiểm soát, do đặc điểm sinh lý của người cao tuổi, chức năng điều tiết của hệ thần kinh trung ương thuyên giảm. Đó là chưa kể đêh người cao tuổi còn mắc một số bệnh mãn tính về tim mạch, tiểu đường, béo phì, bệnh rối loạn chuyển hóa… làm cho chế độ sinh hoạt, chế độ ăn uổng, nghỉ ngơi của người cao tuổi thay đổi, vì thế đột quỵ dễ xảy ra ở ngưòi cao tuổi, đặc biệt là ở những người có sẵn các bệnh về tim mạch (tiền sử có nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành), tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn mỡ máu (tăng cholesterol, trglyceride), đái tháo đường.

Dấu hiệu đột quỵ

– Đột ngột đau đầu dữ dội, choáng váng, mâ’t tri giác hoặc hôn mê, gọi hỏi không biê’t gì (trường hợp nặng do xuất huyết não nhiều hoặc bị chèn ép làm tắc nghẽn mạch máu nuôi dưỡng một vùng não).

– Đột ngột tê tay, chân cùng bên hoặc tay chân khó cử động; nói khó, ngọng, phát âm không rõ; một bên mắt nhắm không kín, nhìn đôi, nhìn mờ, nhòe; miệng méo; nhân trung lệch; có rôi loạn đại tiểu tiện (tiểu không tự chủ hoặc bí tiểu).

– Mất thăng bằng, buồn nôn hoặc nôn. Các triệu chứng này có thể tăng dần lên làm cho bệnh càng trầm trọng.

Nguy cơ tử vong ở những người đột quỵ nêu kh’ phát hiện sớm và không xử trí kịp thời là râ’t lớn, số ít b nhân nếu qua khỏi thì vẫn phải chịu di chứng nặng nề sinh hoạt không tự chủ, không nói được hoặc lú lẫn… Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp các triệu chứng chỉ xảy ra trong vòng vài ba phút rồi trớ lại bình thường. Trường hợp này được gọi là thiếu máu não thoáng qua.

Làm gì khi bị đột quỵ?

Khi có một trong các dâu hiệu cảnh báo là bị đột quỵ, bệnh nhân phải được cấp cứu càng sớm càng tôt, bởi vì nêu xử trí trước 2 giờ, tối thiếu trước 6 giờ, khả năng cứu sống ngưòi bệnh rất cao và ít để lại di chứng, nêu muộn hơn nguy cơ tai biến rất dễ xảy ra. Trong quá trình chuyên bệnh nhân đến bệnh viện cần chú ý cho bệnh nhân năm yên, nghiêng đầu sang một bên ngay cả khi có triệu chứng co giật. Để tránh người bệnh cắn lưỡi, cho một chiếc đũa hoặc cán thìa có quân vải vào giữa 2 hàm răng.

Lưu ý: Không phải tất cả các dấu hiệu trên đều cùng lúc xảy ra trong cơn đột quỵ, cần nhanh chóng đưa người bệnh đến bệnh viện nhằm giảm mức độ trầm trọng và biến chứng của bệnh, cứu sống người bệnh nhờ cấp cứu kịp thời.

Phòng bệnh đột quỵ

Phòng bệnh đột quy ở người cao tuổi: Là phải phòng từ xa, có nghĩa là cẩn được khám sức khỏe định ky theo lời dặn của bác sĩ. Khi có bệnh về tim mạch, cần điều trị